- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Toàn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HS-ST Ngày 19 tháng 4 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu Trung tâm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bạn
Ông Lưu Văn Có
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên. Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z: Ông Phạm Văn Tuân và Nguyễn Viết Lãm
- Kiểm sát viên – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z: Ông Nguyễn Hoài Phương.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, Toà án nhân dân thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử trực tuyến diễn ra tại điểm cầu trung tâm: Hội trường A - Tòa án nhân dân thành phố Z và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến - Nhà tạm giữ Công an thành phố Z, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/HSST ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST - HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình T, sinh năm 1987, tại TP. Hồ Chí Minh; Nơi ĐKNKTT và tạm trú: Không có; Chỗ ở hiện nay: Tổ 12 thôn Vĩnh Hội, phường NH, thành phố Z. Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình D (Đã chết) và bà Ngô Thị Thu T; Tiền sự: không; Tiền án:
- Bản án số 156/2011/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10 tháng 12 năm 2011.
- Bản án số 276/2012/HSST ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13 tháng 3 năm 2013.
- Bản án số 293/2013/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2013 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26 tháng 01 năm 2014.
- Bản án số 296/2014/HSST ngày 17 tháng 12 năm 2014 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26 tháng 8 năm 2016.
- Bản án số 155/2018/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 03 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30 tháng 01 năm 2021.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2022 cho đến nay. Có mặt
* Người làm chứng: Ông Ngô Hồng Q, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ 8 Tháp Bà, phường Vĩnh Phước, thành phố Z. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28 tháng 10 năm 2022, Công an thành phố Z tuần tra tại khu vực tổ 20 đường Trường Phúc, phường VP, thành phố Z, phát hiện Nguyễn Đình T có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên tiến hành kiểm tra giấy tờ tùy thân. T tự lấy từ trong người giao nộp cho tổ công tác 06 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu bên trong không rõ chứa gì được niêm phong ký hiệu A và 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín 02 đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu B. Đồng thời, T khai nhận bên trong các đoạn ống hút nhựa là ma túy “Heroin” và ma túy “đá”, T mua để sử dụng cho bản thân.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28 tháng 10 năm 2022, T đi bộ đến khu vực “Lầu 7” thuộc phường VP, thành phố Z để mua ma túy sử dụng. T gặp người phụ nữ (không rõ lai lịch) hỏi mua 500.000đồng ma túy thì người phụ nữ đưa cho T 06 tép ma túy “Heroin” và tặng thêm cho 01 tép ma túy “Đá”. Sau khi mua được ma túy, T cầm ma túy trên tay đi bộ về thì bị tổ công tác kiểm tra phát hiện.
Tại bản Kết luận giám định số 445/GĐ-GT/2022/KL-KTHS ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:
Chất bột nén màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2537 gam, loại Heroin.
Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0635 gam, loại Methamphetamine
Cáo trạng số 79/CT-VKSNT ngày 07 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z truy tố Nguyễn Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Z giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T từ 05 năm đến 06 năm tù. Vật chứng vụ án; án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với tài liệu biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa; Lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 28/10/2022, tại khu vực tổ 20 Trường Phúc, phường VP, thành phố Z, Nguyễn Đình T đã có hành vi tàng trữ 0,2537g (không phẩy hai năm ba bảy gam) ma túy loại Heroin và 0,0635g (không phẩy không sáu ba lăm gam) ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 79/CT-VKSNT ngày 07/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn của xã hội, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Đình T đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình T. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét vai trò tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã có thời gian bị kết án cải tạo rèn luyện đạo đức nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện đạo đức mà lại liên tục phạm tội do đó, cần phải xử lý thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với nguồn gốc ma túy mà bị cáo đã mua của một người phụ nữ (chưa xác định được nhân thân, lai lịch); Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Z đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: 0,2537 gam ma túy loại Heroin và 0,0635 gam ma túy loại Methamphetamine đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm 0 khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình T.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 10 năm 2022.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo. - Đương sự; - TAND, VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - VKSND thành phố Z; - Công an TP. Z; - Thi hành án dân sự Z; - Lưu: Án văn + Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ HẠNG |