vanban.org

Bản án 106/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 06/02/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HS-ST
Ngày 31 ngày 7 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Nguyên Hồng

Ông Vũ Hữu Hưởng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Hồng Q, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27 tháng 8 năm 2002 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: bản M, xã V, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông: Phạm Văn M, đã chết và bà: Trần Thị A, sinh năm 1976. ị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Hoàng Văn F, sinh năm 2001, địa chỉ: Bản Lù, xã Chiềng Lương, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 05/02/2023 Phạm Hồng Q đi chơi cùng với Hoàng Văn F tại khu vực chợ thuộc tiểu khu 2, xã V, huyện Mai Sơn. F rủ Q đi mua ma túy về cùng sử dụng. Q đồng ý và mượn xe mô tô loại xe thồ không biển kiểm soát của Đỗ Như H nói đi có việc, H đồng ý. Sau đó Q điều khiển xe mô tô chở F đi vào xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn. Tại đây, Q và F gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, F đặt vấn đề mua hồng phiến, người đàn ông đưa Q và F đến nhà một người đàn ông không quen biết. Tại đây Q đưa cho người đàn ông thứ hai số tiền 450.000VNĐ. Người đàn ông nhận tiền và bảo Q, F chờ. Khoảng 30 phút sau người đàn ông thứ hai quay lại đưa cho F 08 viên hồng phiến. Sau đó Q và F cùng 02 người đàn ông sử dụng hết 08 viên hồng phiến tại nhà của người đàn ông thứ hai. Q khai sau khi sử dụng xong F bảo Q đưa cho F 1.050.000VNĐ để mua hồng phiến mang về sử dụng. Q đồng ý đưa tiền cho F, sau đó F đưa tiền cho người đàn ông thứ hai đi mua hồng phiến. Người đàn ông đi ra ngoài khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho F 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 56 viên hồng phiến. F đưa gói hồng phiến vừa mua được cho Q cầm và điều khiển xe mô tô chở Q đi về. Đến khu vực thuộc bản M, xã V, huyện Mai Sơn phát hiện thấy tổ công tác Công an huyện Mai Sơn, Q đã ném gói hồng phiến xuống đường nhưng bị phát hiện thu giữ vật chứng, còn Hoàng Văn F điều khiển xe tăng ga bỏ chạy thoát. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Hồng Q và thu giữ, niêm phong vật Tổ công tác áp sát và khống chế thì đối tượng ngồi sau là Phạm Hồng Q ném 01 gói được gói bằng nilon màu xanh từ lòng bàn tay trái của Q sang phía lề đường bên phải và đối tượng điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy. Tổ công tác khống chế, giữ được Phạm Hồng Q còn đối tượng điều khiển xe mô tô chạy thoát. Tổ công tác yêu cầu Q đến vị trí ném gói nghi ma túy. Q thừa nhận đó là gói ma túy chứa 56 viên Hồng phiến của Q và người đàn ông đi cùng xe mô tô tên là F, sinh năm 2001, trú tại bản Lù, xã Chiềng Lương, huyện Mai Sơn góp tiền mua để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Hồng Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ niêm phong gói vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ số tiền 500.000VNĐ tại túi áo khoác phía ngoài bên trái Q đang mặc; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 tại tay phải Q đang cầm.

Ngày 06/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh 56 viên nén màu hồng, một mặt mỗi viên đều có ký hiệu “WY” nghi là ma túy tổng hợp có tổng khối lượng 5,46 gam, trích rút 0,47 gam làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 316/KLMT ngày 07/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 5,46 gam; Loại Methamphetamine”

Tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKSMS ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Phạm Hồng Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với hồ sơ vụ án và nội dung truy tố của Viện kiểm sát.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q từ 5 năm đến 5 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm do Công an huyện Mai Sơn phát hành, phong bì đã được dán kín tại mép dán của phong bì được dán đè bằng giấy niêm phong số 056463 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên bề mặt giấy niêm phong có ghi đầy đủ thông tin của cơ quan chủ trì tiến hành niêm phong, thời gian địa điểm niêm phong và 02 dấu tròn của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn và chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Hồng Q, trên giấy niêm phong được dán đè băng dính trong suất. Một mặt ghi: “Vỏ niêm phong tang vật ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và tang vật còn lại ký hiệu T= 4,99gam thuộc vụ Phạm Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 05/02/2023 xã V, Mai Sơn, Sơn La”.

Trả lại cho Phạm Hồng Q 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại, máy đã qua sử dụng và số tiền 500.000VNĐ.

Bị cáo tự bào chữa, nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Hồng Q khai nhận như sau: Để có ma túy sử dụng, ngày 05/02/2023, Phạm Hồng Q cùng Hoàng Văn F điều khiển xe mô tô từ xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn đi đến khu vực bản M, xã V, huyện Mai Sơn, thì bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn phát hiện, Phạm Hồng Q đã ném gói ma túy từ lòng bàn tay trái sang lề đường bên phải và đã bị Tổ công tác bắt quả tang thu giữ 5,46 gam Methamphetamine. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ ngày 05/02/2023 của Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 316/KLMT ngày 07/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La; phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can, các biên bản xác minh, biên bản đối chất giữa Phạm Hồng Q và Hoàng Văn F và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn và không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới. Quá trình điều tra bị cáo cho rằng nguồn gốc số ma túy là do bị cáo đã bỏ số tiền 1.050.000VNĐ cho Hoàng Văn F mua ma túy để bị cáo tàng trữ cùng nhau sử dụng. Tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo, không có căn cứ để xác định còn có đồng phạm khác.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận, Phạm Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép 5,46 gam Heroine mục đích để sử dụng, đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: ị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Quá trình bắt giữ có thu giữ được của bị cáo tài sản nhưng có giá trị thấp, không đủ điều kiện để nộp hình phạt bổ sung, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 ộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 ộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm do Công an huyện Mai Sơn phát hànhđược niêm phong theo quy định, trong chứa vỏ niêm phong tang vật ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và tang vật còn lại ký hiệu T= 4,99gam. Đây là vật liên quan đến hành vi phạm tội và chất nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại, máy đã qua sử dụng và số tiền 500.000VNĐ, xét đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô loại xe thồ không có biển kiểm soát Phạm Hồng Q sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Đỗ Như H, sinh năm 1995, trú tại bản M, xã V, huyện Mai Sơn. Quá trình điều tra xác định việc Q sử dụng xe vào việc phạm tội, H không biết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không đặt vấn đề xử lý là phù hợp.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc 5,46 gam Methamphetamine bị thu giữ: ị cáo Phạm Hồng Q khai Q và Hoàng Văn F được một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đưa đến mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn. Quá trình điều tra không xác định được hai người đàn ông đã mua và cùng sử dụng ma túy với bị cáo. Do việc mua bán trao đổi ma túy không có ai biết, làm chứng. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Mai Sơn không có căn cứ để xác minh mở rộng vụ án.

Đối với Hoàng Văn F: ị cáo khai số ma túy thu giữ là do F mua. Tại cơ quan điều tra F chỉ thừa nhận hành vi cùng Q mua 450.000VNĐ được 08 viên Hồng phiến nhưng đã cùng Q và hai người đàn ông không biết tên, địa chỉ sử dụng hết tại địa bàn xã Phiêng Cằm, huyện Mai Sơn. Quá trình xác minh, đối chất, Hoàng Văn F không thừa nhận việc bảo Q đưa tiền để mua 56 viên Hồng phiến để mang về cùng nhau sử dụng như lời khai của bị cáo. F khai bỏ chạy vì lo sợ bị tổ công tác phát hiện việc F vừa sử dụng chất ma túy. Ngoài lời khai của Phạm Hồng Q không có tài liệu nào khác chứng minh hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Hoàng Văn F. uộc Phạm Hồng Q phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 5,46 gam Methamphetamine bị thu giữ trong vụ án.

Do Hoàng Văn F có sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 05/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” đối vơi Hoàng Văn F với hình thức phạt tiền 1.500.000VNĐ. Hiện F chưa chấp hành. Xét việc xử phạt hành chính đối với Hoàng Văn F lời phù hợp, đúng quy định.

Về án phí: ị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 ộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 06/02/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong do Công an huyện Mai Sơn phát hành, phong bì đã được dán kín tại mép dán của phong bì được dán đè bằng giấy niêm phong số 056463 do Công an tỉnh Sơn La phát hành, trên bề mặt giấy niêm phong có ghi đầy đủ thông tin của cơ quan chủ trì tiến hành niêm phong, thời gian địa điểm niêm phong và 02 dấu tròn của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn và chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký ghi rõ họ tên Phạm Hồng Q, trên giấy niêm phong được dán đè băng dính trong suất. Một mặt ghi: Vỏ niêm phong tang vật ban đầu, mảnh nilon màu xanh gói ma túy ban đầu và tang vật còn lại ký hiệu T= 4,99gam thuộc vụ Phạm Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 05/02/2023 xã V, Mai Sơn, Sơn La”; vỏ phong bì cũ giám định.

Trả lại cho Phạm Hồng Q 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, vỏ màu đen, kèm 01 sim điện thoại, máy đã qua sử dụng và số tiền 500.000VNĐ.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 ộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: uộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

áo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ