- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự phúc thẩm số 106 ngày 27/9/2023 - Trần Mũi Lỹ (Đánh bạc) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mũi L về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HS-PT Ngày: 27/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Quang Nhuận.
Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Bà Lâm Dạ Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Trần Mũi L do có kháng cáo của bị cáo Trần Mũi L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Mũi L; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1976; nơi sinh: Thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm X, phường Y, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 05/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (c) và bà Dương Thị D (s); chồng: Huỳnh Tân H (đã ly hôn); con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 06/4/2022 bị Công an thị xã V xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000584/QĐ-XPHC ngày 06/4/2022 (nộp phạt ngày 08/4/2022); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2023 cho đến nay, (bị cáo có mặt).
- Người phiên dịch tiếng Hoa: Bà Trịnh Thị L, nghề nghiệp: Giáo viên tiếng Hoa. Địa chỉ: Đường L, Khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, (có mặt).
- Những người không liên quan đến kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Xiêu A, Huỳnh Văn T, Trần Hèm H, Trần Thị Ái N; Người làm chứng: Trần Sảo K, Huỳnh Mã G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ, ngày 25/11/2022 Trần Mũi L, Huỳnh Văn T, Trần Hèm H và Trần Thị Ái N đến nhà của bà Trần Xiêu A thuộc khóm V, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng để tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, Trần Sảo K và ông Huỳnh Mã G đến nhà bà A và ngồi xem đánh bài tứ sắc ăn tiền. Khi đến nhà bà A, Trần Mũi L, Huỳnh Văn T, Trần Hèm H và Trần Thị Ái N ngồi chơi đánh bài ăn tiền trên chiếc chiếu được trải ở trong nhà của bà Trần Xiêu A với hình thức chơi là ai tới thì T hết, mỗi bàn đặt cược là 10.000 đồng (mười nghìn đồng), nếu tới oan thì ăn 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Bài tứ sắc do bà Trần Xiêu A chuẩn bị rồi bà A lấy tiền xâu, cụ thể: Bà A chuẩn bị 01 (một) cái đĩa nhựa màu trắng để ở giữa chiếu bạc, cứ sau mỗi ván người chơi sẽ xếp 01 (một) con bài tứ sắc đã qua sử dụng thành hình vuông rồi bỏ vào cái đĩa nhựa màu trắng, khi nào trong đĩa được 10 (mười) con tứ sắc hình vuông, người thắng bàn thứ 10 sẽ xâu cho bà A 10.000 đồng (mười nghìn đồng), bà A sẽ đổi 01 bộ bài tứ sắc mới để họ tiếp tục chơi. Bằng hình thức như vậy, trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến khoảng 15 giờ ngày 25/11/2022 Trần Mũi L, Huỳnh Văn T, Trần Hèm H và Trần Thị Ái N chơi hơn 10 ván và xâu cho bà Trần Xiêu A 10.000 đồng thì bị Công an phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu bắt quả tang, thu giữ gồm:
- Số tiền 6.040.000 đồng thu tại chiếu bạc, trong đó:
+ Số tiền 1.540.000 đồng là tiền của Trần Mũi L, Huỳnh Văn T, Trần Hèm H và Trần Thứị Ái N dùng để đánh bạc và tiền bà Trần Xiêu A lấy xâu.
+ Số tiền 4.500.000 đồng là tiền cá nhân của ông T dùng để trị bệnh không dùng vào mục đích đánh bạc.
- Tiền thu trên người tổng cộng 12.112.000 đồng, cụ thể:
+ Thu của Trần Hèm H 10.000 đồng là tiền mà bà H mang theo để đánh bạc.
+ Thu của Trần Thị Ái N 11.545.000 đồng là tiền cá nhân của bà N không dùng để đánh bạc.
+ Thu của Trần Sảo K 557.000 đồng đây là tiền của cá nhân Trần Sảo K không dùng vào mục đích đánh bạc.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Vĩnh Châu thu giữ vật chứng gồm:
- 01 (một) một cái đĩa nhựa màu trắng; 01 (một) chiếc chiếu màu đỏ - vàng - xanh có chiều dài 02 x 1,5 mét; nhiều bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; tiền Việt Nam thu tại chiếu bạc 6.040.000 đồng.
- Tiền Việt Nam thu trên người:
+ Trần Thị Ái N 11.545.000 đồng.
+ Trần Hèm H 10.000 đồng.
Tất cả các đồ vật trên chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu quản lý.
Riêng số tiền thu trên người Trần Sảo K 557.000 đồng, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho Trần Sảo K.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Mũi L phạm tội: “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Trần Mũi L 04 (bốn) thứáng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 26/7/2023, bị cáo Trần Mũi L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Mũi L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo vì đang nuôi con còn nhỏ và là lao động chính.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thứẩm: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Mũi L lập và nộp trực tiếp cho Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 26/7/2023, là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Mũi L như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 14 giờ ngày 25/11/2022 tại nhà bà Trần Xiêu A, bị cáo cùng với Huỳnh Văn T, Trần Hèm H và Trần Thị Ái N chơi đánh bài ăn tiền với hình thức chơi là ai tới thì thắng hết, mỗi bàn đặt cược là 10.000 đồng (mười nghìn đồng), nếu tới oan thì ăn 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng). Bà Trần Xiêu A cung cấp, bà A lấy tiền xâu. Bà A lấy 01 (một) cái đĩa nhựa màu trắng để ở giữa chiếu bạc, cứ sau mỗi ván người chơi sẽ xếp 01 (một) con bài tứ sắc đã qua sử dụng thành hình vuông rồi bỏ vào cái đĩa nhựa màu trắng, khi nào trong đĩa được 10 (mười) con tứ sắc hình vuông, người thắng bàn thứ 10 sẽ xâu cho bà A 10.000 đồng (mười nghìn đồng), bà A sẽ đổi 01 bộ bài tứ sắc mới để họ tiếp tục chơi.
Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Với hành vi và hậu quả của bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Trần Mũi L phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, về việc xin được giảm án và được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và xác định bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo dân tộc Hoa có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, để có cơ sở áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 (bốn) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Xét bị cáo bị xử phạt tù dưới 03 năm tù; có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và có nơi cư trú rõ ràng là đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Tuy nhiên, đây là hành vi nguy hiểm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương và do tình hình tội phạm này ngày càng tăng, nên việc cho bị cáo hưởng án treo không đủ tính răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mũi L về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2023/HS-ST ngày 12 thứáng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 3 Điều 54, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trần Mũi L 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử buộc bị cáo Trần Mũi L phải chịu án phí phúc thẩm là 200.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
4. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1-TANDTC (01); - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01) - TAND thị xã Vĩnh Châu (02); - VKSND thị xã Vĩnh Châu (01); - CQĐT - Công an thị xã Vĩnh Châu (01); - CQTHAHS-Công an thị xã Vĩnh Châu (01); - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu (01); - Bị cáo (01); - PKTNV-THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01); - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01); - Lưu HS, THS (04). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Thanh Nhanh |