vanban.org

Bản án 106/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 28/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lùi Đức T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Lùi Đức T phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lùi Đức T. Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lùi Đức T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HS-PT
Ngày: 28-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Ông Đỗ Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLPT-HS ngày 18/5/2023 đối với bị cáo Lùi Đức T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lùi Đức T, sinh năm: 1993, nơi sinh: Lâm Đồng, nơi cư trú: 80 thôn TN, xã TT, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, nghề nghiệp: Tự do, trình độ học vấn: 09/12; con ông: Lùi Văn Túng và bà: Đinh Thị Hoàng Yến; vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 26/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách là 36 tháng, chấp hành xong ngày 26/10/2021;

Tiền sự: Ngày 13/05/2019 bị Công an huyện Đức Trọng xử phạt hành chính về hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.

Trong vụ án này, còn có các bị cáo khác không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 05/08/2022 Công an huyện Đức Trọng bắt quả tang tại nhà Nguyễn Hoanh, địa chỉ: số 69, xóm 3, thôn Tân An, xã Tân Hội, huyện Đức Trọng các đối tượng đang có có hành vi tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức xóc dĩa, gồm: Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 ngày 05/8/2022, Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H và một số đối tượng chưa rõ nhân thân, lai lịch rủ nhau đến nhà Nguyễn Hoanh hỏi mượn địa điểm thực hiện hành vi đánh bạc thì được Nguyễn Hoanh đồng ý. Hoanh cung cấp mền, nước, cho mượn chén, dĩa để phục vụ việc đánh bạc, thu tiền các đối tượng đến tham gia và thu tiền xâu. Các đối tượng sử dụng phòng bếp của Hoanh để đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền và thực hiện hành vi đánh bạc đến 22h30’ cùng ngày thì bị cơ quan Công an bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoanh, Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 18.150.000 đồng. Nguyễn Hoanh đã khai nhận việc giúp sức cho các đối tượng đánh bạc và thu lợi 800.000đ.

Đối với Nguyễn Minh Quang, sinh năm 1992, trú tại Tân Hội, Đức Trọng và Phạm Thắng, sinh năm 1967, trú tại Tân Hội, Đức Trọng, tại thời điểm bắt quả tang Quang và Thắng có mặt tại sòng bạc tuy nhiên không tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền.

* Tang vật thu giữ:

- Thu giữ trên chiếu bạc: Số tiền 18.150.000đ

- 01 chén, 01 đĩa, 04 con vị làm bằng bài tây, 01 chiếu nhựa.

- Tiền trong người các đối tượng: Nguyễn Hoanh: số tiền 800.000đ; Võ Văn Ch: 3.100.000đ; Phạm Thắng: 5.000.000đ.

Đối với số tiền thu giữ của Phạm Thắng là 5.000.000đ, do Thắng không tham gia đánh bạc nên CQĐT đã trả lại số tiền trên cho Thắng.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 22.050.000đ, 01 chén, 01 đĩa, 04 con vị làm bằng bài tây, 01 chiếu nhựa hiện đã bàn giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Trọng chờ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số: 23/CT - VKS ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoanh về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng đã xử;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoanh phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoanh số tiền 70.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Tuyên bố các bị cáo Lùi Đức T, Lê Thanh H, Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lùi Đức T.

Xử phạt bị cáo Lùi Đức T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Tiến số tiền 10.000.000đồng sung Ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V.

Xử phạt các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, mỗi bị cáo phạt số tiền 50.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/4/2023, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vắng mặt không đến phiên toà mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2; bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xét xử vắng mặt bị cáo và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng và không do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 352 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 05/08/2022, tại xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, Nguyễn Hoanh đã có hành vi sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình cho các con bạc thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền, đồng thời Hoanh cung cấp mền, nước, cho mượn chén, đĩa để phục vụ việc đánh bạc, thu tiền các đối tượng đến đánh bạc và thu tiền xâu. Số tiền mà Hoanh phải chịu trách nhiệm với vai trò tổ chức đánh bạc là 22.050.000đ. Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H đã có hành vi tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc và phải chịu trách nhiệm là 22.050.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Hoanh phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn Th, Võ Văn Ch, Nguyễn Văn Tr, Lê Thanh V, Lùi Đức T, Lê Thanh H phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của xin hưởng án treo của bị cáo Lùi Đức T thì thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo nhưng bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội đang có tiền án, chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và có 01 tiền sự về hành vi gây thương tích cho người khác, nên bị cáo không đủ điều kiện hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lùi Đức T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Lùi Đức T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lùi Đức T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Tiến số tiền 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lùi Đức T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ