- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H-Vũ Kim T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H đối với bị đơn ông Vũ Kim T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thiều Thị Phi Loan;
2. Bà Phạm Thị Nguyệt Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 3090/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 16/03/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 136/2023/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1970; cư trú tại: phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Vũ Kim T, sinh năm 1962; cư trú tại: phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Bà H và ông Vũ Kim T kết hôn năm 1991, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số R0003 ngày 02/01/1991, hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó, phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, hay cãi vã và không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà H xin ly hôn với ông Vũ Kim T.
- Về con chung: Bà H khai có 05 con chung là cháu Vũ Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/02/1991; cháu Vũ Phạm Ngọc Á, sinh ngày 15/12/1992; cháu Vũ Phạm Cao C, sinh ngày 02/01/1995 (đã chết); cháu Vũ Phạm Thanh Th, sinh ngày 20/01/2002 và cháu Vũ Phạm Thảo Q, sinh ngày 02/7/2012 . Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thảo Q. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngọc A, cháu Ngọc Á, cháu Thanh Th đã thành niên và có khả năng lao động, cháu Cao C đã chết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Vũ Kim T: Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với Toàn; giao con chung là cháu Vũ Phạm Thảo Q, sinh ngày 02/7/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; đối với cháu Ngọc A, cháu Ngọc Á, cháu Thanh Th đã thành niên và có khả năng lao động, cháu Cao C đã chết nên không không đặt ra xem xét và đề nghị xem xét về phần cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tố tụng:
- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:
Bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Vũ Kim T. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định bà H là nguyên đơn, ông T là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Theo kết quả xác minh ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa thì ông Vũ Kim T đang cư trú tại phường LB, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về thủ tục tố tụng khác: Bà Phạm Thị H đã có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Vũ Kim T đã được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H, ông Vũ Kim T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số R0003 ngày 02/01/1991, hôn nhân tự nguyện nên được coi là hôn nhân hợp pháp. Nay bà H xin ly hôn, Tòa án căn cứ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình 2014 để giải quyết.
Xét thấy: Bà H khai, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó, phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm, hay cãi vã và không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Tại biên bản xác minh ngày 22 tháng 02 năm 2023, Ủy ban nhân dân phường Long Bình xác định vợ chồng bà H, ông T có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết vì các đương sự không trình báo hay yêu cầu địa phương hòa giải. Từ khi bà H gửi đơn xin ly hôn cũng như trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gửi cho Tòa án nên được coi là bỏ mặc, không còn quan tâm đến việc giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ vợ chồng. Như vậy, hôn nhân giữa bà H và ông T đã rạn nứt không thể hàn gắn được. Ông T bỏ mặc nên việc đoàn tụ, tiếp tục xây dựng hạnh phúc là khó thực hiện được. Do đó, bà H xin ly hôn là có căn cứ chấp nhận.
Về con chung: Bà H xác định có 05 con chung là cháu Vũ Phạm Ngọc A, sinh ngày 20/02/1991; cháu Vũ Phạm Ngọc Á, sinh ngày 15/12/1992; cháu Vũ Phạm Cao C, sinh ngày 02/01/1995 (đã chết); cháu Vũ Phạm Thanh Th, sinh ngày 20/01/2002 và cháu Vũ Phạm Thảo Q, sinh ngày 02/7/2012 . Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thảo Q. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngọc A, cháu Ngọc Á, cháu Thanh Th đã thành niên và có khả năng lao động, cháu Cao C đã chết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông T vẫn không lên Tòa để trình bày ý kiến của mình về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, cũng như cung cấp các tài liệu chứng cứ về điều kiện để nuôi con. Ông T cũng không có ý kiến phản bác về các yêu cầu nêu trên của bà H. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, giao cháu Vũ Phạm Thảo Q cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời không xem xét.
Về tài sản chung: Bà H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông T không lên Tòa cung cấp lời khai về tài sản chung. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông T không lên Tòa cung cấp lời khai về nợ chung. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, Khoản 4 Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 5, Điều 6 và Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;
Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 57, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H đối với bị đơn ông Vũ Kim T.
Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Vũ Kim T.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Phạm Thảo Q, sinh ngày 02/7/2012 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngọc A, cháu Ngọc Á, cháu Thanh Th đã thành niên và có khả năng lao động, cháu Cao C đã chết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Ông Vũ Kim T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Bà H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T không lên Tòa làm việc nên không cung cấp lời khai cho Tòa. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T không lên Tòa làm việc nên không cung cấp lời khai cho Tòa. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004804 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bà H đã nộp đủ.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Viện kiểm sát cùng cấp;
- Chi cục thi hành án DS TP. Biên Hòa;
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- UBND xã Xuân Tâm, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai;
- Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án;
Lê Thị Nguyệt THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Ủy ban nhân dân phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Nguyệt |