- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Danh Danh và Huỳnh Văn Sượn"
- Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị D là được ly hôn với anh Huỳnh Văn S. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64 ngày 19/4/2013 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 106/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023. Về việc: “T/c về Ly hôn; nuôi con chung” |
NHÂN D
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Phúc;
2. Ông Trần Thành Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị D , sinh năm 1992; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 24, ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1987; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 24, ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang.
(anh Huỳnh Văn S vắng mặt không lý do; đã tống đạt hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị D và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Chị Trần Thị D sống chung với anh Huỳnh Văn S từ năm 2010, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã VH, huyện CT, An Giang (giấy đăng ký kết hôn số 64 ngày 19/4/2013). Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tình cảm vợ chồng, thường xuyên hay cãi nhau do anh S có hành vi bạo lực gia đình, không tôn trọng và quan tâm vợ con nên đã sống ly thân cho đến nay. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Huỳnh Trần T Ninh sinh ngày 20/11/2011 và Huỳnh Hoài B sinh ngày 03/10/2019, hiện tại 02 con đang sống chung với chị Trần Thị D .
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Trần Thị D yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn S; về con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con; về tài sản thì tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Huỳnh Văn S thì: Toà án đã nhiều lần gửi Thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa 02 người nhưng anh Huỳnh Văn S đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì anh Huỳnh Văn S có nơi cư trú tại tổ 24, ấp VT, xã VH, huyện CT, An Giang; hiện tại anh Huỳnh Văn S thường xuyên không có mặt tại địa S nhưng không cung cấp nơi cư trú hoặc địa chỉ nơi làm việc mới nên Tòa án đã thông qua Thừa phát lại thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con chung, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn anh Huỳnh Văn S vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Huỳnh Văn S từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị D xin được ly hôn với anh Huỳnh Văn S. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị D và anh S đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại, Tòa án nhiều lần mời anh Huỳnh Văn S để hòa giải cho anh, chị đoàn tụ nhưng anh không còn quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, vẫn không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa anh, chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị D là được ly hôn với anh Huỳnh Văn S.
Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Trần Thị D thừa nhận 02 cháu Huỳnh Trần T Ninh sinh ngày 20/11/2011 và Huỳnh Hoài B sinh ngày 03/10/2019 là con chung của chị và anh Huỳnh Văn S, giấy khai sinh của các cháu cũng đã thể hiện điều này, do đó cần công nhận 02 cháu là con chung của chị D và anh S; đồng thời phía chị Trần Thị D có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì 02 cháu đã sống chung với chị D đến nay, đồng thời phía anh S cũng không tranh chấp; do đó, để ổn định tâm lý và cuộc sống cho các cháu nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị D là được tiếp tục nuôi 02 cháu Huỳnh Trần T Ninh và Huỳnh Hoài B. Ngoài ra, phía chị Trần Thị D không yêu cầu anh Huỳnh Văn S cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Trần Thị D có yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn S nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Xử:
* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị D là được ly hôn với anh Huỳnh Văn S. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64 ngày 19/4/2013 do Uỷ ban nhân dân xã VH (huyện CT, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận 02 con chung tên Huỳnh Trần T Ninh sinh ngày 20/11/20011 và Huỳnh Hoài B sinh ngày 03/10/2019 là con chung của chị Trần Thị D và anh Huỳnh Văn S;
+ Giao 02 cháu Huỳnh Trần T Ninh và Huỳnh Hoài B cho chị Trần Thị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi (hiện 02 cháu đang sống chung với chị D); anh Huỳnh Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Thị D , do không có yêu cầu.
+ Chị Trần Thị D cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh Huỳnh Văn S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Tự thỏa thuận.
* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0004086 ngày 06/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang; được khấu trừ nên chị Trần Thị D đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND H. Châu Thành (1); - Chi cục THADS H. Châu Thành (1); - Các đương sự (2); - UBND xã VH (1); - Lưu văn phòng (1); - Lưu hồ sơ vụ án (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Hoàng Huy Hùng |