vanban.org

Bản án 106/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thúy N. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 106/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-9-2023
“V/v Ly hôn giữa chị N và anh H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên và bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thúy N , sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp X , xã Đ , huyện A , tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H , sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp X , xã Đ , huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Phan Thị Thúy N trình bày như sau:

Chị Phan Thị Thúy N (gọi tắt là chị N) và anh Nguyễn Văn H (gọi tắt là anh H) chung sống với nhau vào năm 2014 hôn nhân tự nguyện được gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 08/6/2015.

Vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp thường xảy ra cãi vã và anh H có tính bạo lực gia đình đánh đập chị N nhiều lần có lần dẫn đến bị thương tích. Chị N đã khuyên can nhiều lần anh H không thay đổi nên vợ chồng đã ly thân được khoảng một năm. Nhận thấy vợ chồng không thể chung sống và không thể mang lại hạnh phúc cho nhau nên chị Ngân xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Phan Ái T, sinh ngày 16/10/2015 và Nguyễn Phan Chí T1, sinh ngày 21/3/2017. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi các con chung không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị N tiếp tục xin ly hôn với anh H, yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Phan Ái Tvà đồng ý giao cháu Nguyễn Phan Chí T1 cho anh H nuôi dưỡng vợ chồng không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa - bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt và không có đơn yêu cầu phản tố và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của chị Nn.

Ý kiến trình bày của con chung: Cháu Nguyễn Phan Ái T có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi mẹ ly hôn.

Chứng cứ đã thu thập: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu (Bản công chứng); giấy khai sinh của các con chung vợ chồng, bị đơn không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn - anh Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị N được ly hôn với anh H; giao cháu Nguyễn Phan Ái T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Phan Chí T1 cho anh H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa anh H tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung vụ án:

Quan hệ pháp luật: Chị N yêu cầu ly hôn với anh H và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Chị N và anh H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Ngân, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vắng mặt đồng thời không gửi văn bản nêu ý kiến trước yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N. Qua lời trình bày của chị N thì anh chị chung sống phát sinh mâu thuẫn do tính tính vợ chồng không hòa hợp thường xảy ra cự cãi, anh H có hành vi bạo lực gia đình thường xuyên đánh đập vợ có lần dẫn đến thương tích. Kết quả xác minh từ chính quyền địa phương cho biết đời sống hôn nhân của chị N và anh H xảy ra mâu thuẫn không có hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên hòa giải để hòa giải đoàn tụ nhưng anh H không đến hòa giải đoàn tụ, không thể hiện thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị N và anh H có hai người con chung là Nguyễn Phan Ái T, sinh ngày 16/10/2015 và Nguyễn Phan Chí T1, sinh ngày 21/3/2017. Cháu Nguyễn Phan Ái T có nguyện vọng được sống với mẹ, còn cháu Nguyễn Phan Chí T1 hiện tại do anh H nuôi dưỡng. Nhận thấy hiện nay các con chung của vợ chồng anh chị đang có cuộc sống sinh hoạt ổn định với cha mẹ, hơn nữa bản thân chị N và anh H đều đi làm công việc mỗi người nuôi 01 đứa con để chia sẻ trách nhiệm và đảm cho các con có cuộc sống ổn định hơn. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao các cháu Nguyễn Phan Ái T cho chị Ntiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Phan Chí T1 cho anh H nuôi dưỡng sau khi chị N và anh H ly hôn để bảo đảm cuộc sống sinh hoạt của các con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung của vợ chồng: Chị N xác định không có, không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị N là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thúy N.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phan Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phan Ái T, sinh ngày 16/10/2015 cho chị Phan Thị Thúy N tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Phan Chí T1, sinh ngày 21/3/2017 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng sau khi chị Phan Thị Thúy N và anh Nguyễn Văn H ly hôn để bảo đảm cuộc sống sinh hoạt của các con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung của vợ chồng: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.

4. Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Phan Thị Thúy N có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008710 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Chị Phan Thị Thúy N đã nộp đủ án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ