vanban.org

Bản án 106/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 30/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K dư nợ tính đến ngày 30/8/2023 tổng cộng là 100.898.737đ (một trăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi bảy đồng); trong đó tiền vốn gốc là 70.000.000đ (bảy mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/DS-ST
Ngày: 30 – 8 – 2023
“V/v Tranh chấp hợp
đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

2. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 03/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 47/2023/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K .

Địa chỉ: Số 40-42-44 đường Ph , phường V , thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ Nh , sinh năm 1994 (Có mặt).

Địa chỉ: Số nhà 466 đường Tr , Khóm A, Phường F, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

* Bị đơn:

- Bà Triệu Thị D , sinh năm 1961(Vắng mặt).

- Ông Thạch Th , sinh năm 1958 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khóm Đ , Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thạch H , sinh năm 1988 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm Đ , Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/11/2022 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền bà Trương Thị Mỹ Nh trình bày:

Ngày 01/9/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K – Phòng giao dịch thị xã Vĩnh Châu (gọi tắt là Ngân hàng) có cho bà Triệu Thị D và ông Thạch Th vay vốn Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 369/20/HĐTD/2101 với số tiền là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 13,4%/năm, có thay đổi theo lãi suất tiền vay kỳ hạn 3 tháng; trả lãi 6 tháng 01 lần, trả gốc cuối kỳ; có quy định lãi chậm trả và lãi quá hạn.

Để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng trên, bà D và ông Th đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp tài sản số 363/18/HĐTC-BĐS/2101 ngày 10/9/2018, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất với đất diện tích 6.943m2 thuộc thửa 212 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại khóm Đ , Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Triệu Thị D đứng tên.

Trong quá trình vay bà D và ông Th đã vi phạm hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà D và ông Th vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Tính đến ngày 30/8/2023, bà D và ông Th còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 100.898.737đ (một trăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi bảy đồng); trong đó tiền vốn gốc là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 2.364.274đ (hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng), lãi chậm trả là 471.559đ (bốn trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi chín đồng) và lãi quá hạn là 28.062.904đ (hai mươi tám triệu không trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm lẻ bốn đồng).

Nay, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà D và ông Th phải thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, bà D và ông Th còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 31/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp, bà D và ông Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với bị đơn bà Triệu Thị D và ông Thạch Th : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng bà D và ông Th không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự và bà D và ông Th cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 15/8/2023, bà D và ông Th vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H : Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng anh H không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự và anh H cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 15/8/2023, anh H vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai bà D , ông Th và anh H vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà D , ông Th và anh H theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 30/8/2023 tổng cộng là 100.898.737đ (một trăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi bảy đồng); trong đó tiền vốn gốc là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 2.364.274đ (hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng), lãi chậm trả là 471.559đ (bốn trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi chín đồng) và lãi quá hạn là 28.062.904đ (hai mươi tám triệu không trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm lẻ bốn đồng). Đồng thời, vợ chồng bà D và ông Th còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 31/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp vợ chồng bà D và ông Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn bà Triệu Thị D và ông Thạch Th i cư trú tại khóm Đ, Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và anh Thạch H .

Về nội dung giải quyết:

Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 369/20/HĐTD/2101 ngày 01/9/2020. Vợ chồng bà Dang và ông Thải đã nhận đủ số tiền vay là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Xác định Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 369/20/HĐTD/2101 ngày 01/9/2020 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng. Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và vợ chồng bà D và ông Th đã nhận đủ số tiền vay là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, vợ chồng bà D và ông Th đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, vợ chồng bà D và ông Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 369/20/HĐTD/2101 ngày 01/9/2020 có lãi suất thỏa thuận là 13,4%/năm, có thay đổi theo lãi suất tiền vay kỳ hạn 3 tháng; trả lãi 6 tháng 01 lần; có quy định lãi chậm trả và lãi quá hạn. Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng bà D và ông Th đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà D và ông Th phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn vợ chồng bà D và ông Th liên đới trả tiền các khoản nợ trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Dang và ông Thải là vợ chồng và việc vay nợ của vợ chồng bà D và ông Th mục đích để bổ sung vốn chăn nuôi, cùng phát triển kinh tế gia đình, mục đích là tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình. Bà D và ông Th cùng lao động, cùng sinh hoạt trong gia đình và cùng lấy tài sản chung để đảm bảo cho khoản nợ vay. Do đó, Ngân hàng yêu cầu vợ chồng bà D và ông Th cùng liên đới trả các khoản nợ vốn và lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 31/8/2023, vợ chồng bà D và ông Th còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, vợ chồng bà D và ông Th đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp tài sản số 363/18/HĐTC-BĐS/2101 ngày 10/9/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số K 667690, được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho bà Triệu Thị D ngày 13/10/1997. Diện tích 6.943m2 thuộc thửa 212 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại khóm Đ , Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí, tứ cận như sau:

+ Hướng Đông giáp thửa 209 và 566.

+ Hướng Tây giáp đất thửa 578.

+ Hướng Nam giáp thửa 262.

+ Hướng Bắc giáp thửa 171.

Tài sản trên đất là của vợ chồng bà D và ông Th hiện do vợ chồng bà D , ông Th và con trai là anh Thạch H quản lý sử dụng, gồm có:

+ 01 căn chòi giữ Tôm, cột cây tạp, mái lợp lá, vách lá, nền đất; chiều ngang 3,6m x chiều dài 5m.

+ 03 ao nuôi Tôm.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì vợ chồng bà D và ông Th tự nguyện, trực tiếp ký kết với Ngân hàng. Tại phiên xem xét, thẩm định tại chỗ, ông Th thừa nhận phần tài sản trên đất là tài sản gia đình bà D và ông Th và hiện nay vợ chồng bà D và ông Th cùng con trai là anh Thạch H đang quản lý sử dụng. Hội đồng xét xử nhận định: Khi ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp do hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp vợ chồng bà D và ông Th vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, trường hợp vợ chồng bà D và ông Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp thì bị đơn bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng bà D và ông Th phải liên đới chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên vợ chồng bà D và ông Th phải liên đới trả lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng bà D và ông Th phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 295, 303, 325, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đối với bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

2. Buộc bị đơn vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K dư nợ tính đến ngày 30/8/2023 tổng cộng là 100.898.737đ (một trăm triệu tám trăm chín mươi tám nghìn bảy trăm ba mươi bảy đồng); trong đó tiền vốn gốc là 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 2.364.274đ (hai triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng), lãi chậm trả là 471.559đ (bốn trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi chín đồng) và lãi quá hạn là 28.062.904đ (hai mươi tám triệu không trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm lẻ bốn đồng).

Đồng thời vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th còn phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 31/8/2023 cho đến khi trả xong số nợ gốc.

3. Trường hợp vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bị đơn bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H phải giao tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 363/18/HĐTC-BĐS/2101 ngày 10/9/2018, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số K 667690, được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là thị xã Vĩnh Châu) cấp cho bà Triệu Thị D ngày 13/10/1997. Diện tích 6.943m2 thuộc thửa 212 tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại khóm Đ , Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; có vị trí, tứ cận như sau:

+ Hướng Đông giáp thửa 209 và 566.

+ Hướng Tây giáp đất thửa 578.

+ Hướng Nam giáp thửa 262.

+ Hướng Bắc giáp thửa 171.

Tài sản trên đất là của vợ chồng bà D và ông Th hiện do vợ chồng bà D và ông Th và con trai là anh Thạch H quản lý sử dụng, gồm có:

+ 01 căn chòi giữ Tôm, cột cây tạp, mái lợp lá, vách lá, nền đất; chiều ngang 3,6m x chiều dài 5m.

+ 03 ao nuôi Tôm.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th liên đới chịu là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K đã nộp xong, vợ chồng bà Triệu Thị D và ông Thạch Th có nghĩa vụ liên đới trả lại cho nguyên đơn 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng bà Triệu Thị Da và ông Thạch Th phải liên đới chịu là 5.044.936đ (năm triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi sáu đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.537.000đ (hai triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006064 ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Riêng bị đơn bà Triệu Thị D , ông Thạch Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014. rNơi nhận:

Cỡ chữ