vanban.org

Bản án 106/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

Về điều luật áp dụng: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tấn H về tội: “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HSST
Ngày: 23/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bắc.

2. Ông Ngô Xuân Dệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2022/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:107/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà các số: 63/2022/HSST-QĐ ngày 28 tháng 7 năm 2022 và 70/2022/HSST-QĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Tấn H, sinh năm 1996 tại Gia Lai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn 5, xã AP, thành phố P, tỉnh Gia Lai; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Tr, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Ph, sinh năm 1971; Đều trú tại thôn 5, xã AP, thành phố P, tỉnh Gia Lai; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 18/11/2021, điều khiển xe mô tô biển số 81B2-564.02 gây tai nạn giao thông làm chết 01 người, sau đó ra đầu thú. Ngày 26/01/2022, bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

Những người tham gia tố tụng:

Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Thị M (Đã chết): Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Hẻm 49 ÂC, tổ 4, phường TL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị Ph, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn 5, xã AP, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Anh Huỳnh Ngọc L, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn 3, xã DP, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Tấn H không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Vào khoảng 18 giờ ngày 18/11/2021, sau khi uống bia tại nhà ở Thôn 5, xã AP, thành phố P, tỉnh Gia Lai, H điều khiển xe mô tô biển số 81B2-564.02, dung tích xi lanh 124cm3, lưu thông trên làn đường giữa đường LD, hướng huyện ĐĐ đi trung tâm thành phố P, với tốc độ khoảng 60km/h (theo lời khai của H), chở anh Huỳnh Ngọc L (sinh năm 2000) về nhà của anh L tại Thôn 3, xã DP, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi cách ngã ba đường LD giao nhau với đường LLQ, thuộc địa phận Tổ 5, phường TL, thành phố P, tỉnh Gia Lai khoảng 10m, H quan sát thấy có một số phương tiện đang dừng ở lối mở của dải phân cách giữa đường LD để chờ sang đường, nH H không giảm tốc độ xe mà tăng ga, điều khiển xe mô tô biển số 81B2-564.02 theo hướng lưu thông ban đầu qua ngã ba đường LD giao nhau với đường LLQ, thì tông vào giữa thân xe bên phải xe mô tô biển số 81C1-062.55 do chị Phan Thị Mười điều khiển chở phía trước cháu Nguyễn Hoàng H (sinh năm 2018; là con của chị M) đang lưu thông từ lối mở của dải phân cách giữa đường LD rẽ trái qua đường LLQ, hướng trung tâm thành phố P đi huyện ĐĐ, làm người và các phương tiện ngã xuống đường. Hậu quả: Chị Mười bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện HA Gia Lai, đến ngày 02/12/2021 thì chết; cháu Huy, anh Lý và H bị thương nhẹ không nhập viện điều trị.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo không có giấy phép lái xe. Vào khoảng 18 giờ ngày 18/11/2021, sau khi uống bia tại nhà ở Thôn 5, xã AP, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Huỳnh Tấn H điều khiển 01 xe mô tô biển số 81B2-564.02 có dung tích xi lanh 124cm3, đi với tốc độ khoảng 60 km/h (theo lời khai của H), lưu thông trên làn đường giữa đường LD, hướng huyện Đăk Đoa đi trung tâm thành phố P. Khi cách ngã ba đường LD giao nhau với đường LLQ, thuộc địa phận Tổ 5, phường TL, thành phố P, tỉnh Gia Lai, khoảng 10m, H quan sát thấy có một số phương tiện đang dừng ở lối mở của dải phân cách giữa đường LD để chờ sang đường, nH H không giảm tốc độ xe mà tăng ga, điều khiển xe mô tô biển số 81B2-564.02 theo hướng lưu thông ban đầu qua ngã ba đường LD giao nhau với đường LLQ, thì tông vào giữa thân xe bên phải xe mô tô biển số 81C1-062.55 do chị Phan Thị M điều khiển chở phía trước cháu Nguyễn Hoàng H, đang lưu thông từ lối mở của dải phân cách giữa đường LD rẽ trái qua đường LLQ, hướng trung tâm thành phố P đi huyện ĐĐ, làm người và các phương tiện ngã xuống đường. Hậu quả làm chị M chết. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú. Sau tai nạn, bị cáo đã bồi thường cho gia đình chị M 80.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 104/CTr-VKS ngày 22 tháng 6 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Huỳnh Tấn H về tội: “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a và b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm a và b khoản 2 Điều 260; Điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự 2015; Xử phạt bị cáo 03 năm 03 năm 06 tháng tù.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 318/21/HS ngày 30/12/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Gia Lai, kết luận nguyên nhân chị Phan Thị M chết là do: “Suy tuần hoàn, suy hô hấp không hồi phục, hậu quả do chấn thương sọ não nặng do tai nạn gia thông”.

Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lúc 18 giờ 45 phút ngày 18/11/2021 tại Bệnh viện HA Gia Lai của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố P thể hiện nồng độ cồn của H là 0,284mg/l.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Nơi xảy ra tai nạn là mặt đường LD, đường đôi có dải phân cách cứng bằng bê tông rộng 3m, cao 0,3m phân chia đều đường. Chiều đường LD hướng đi ngã tư PĐ thảm bê tông nhựa bằng phẳng rộng 10,2m, trên mặt đường có vạch kẻ đường dạng vạch đơn đứt nét màu trắng (vạch 2.1) phân chia thành 03 làn đường. Nơi xảy ra tai nạn có khoảng cách đảo phân cách để quay đầu rộng 35m. Mỗi đầu dải phân cách có vạch sơn dạng (3x0,4)m dành cho người đi bộ sang đường (vạch 7.3a). Cách đầu vạch người đi bộ sang đường hướng đi huyện ĐĐ 520m chiều đi ngã tư PĐ có vạch gờ giảm tốc ngang đường diện 3,8m.

Trên lề đường cách mép người đi bộ 4m có biển báo hiệu I423b báo vị trí nơi người đi bộ sang đường, cách 98m có biển báo hiệu W207b báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Đường LLQ đầu nối lề đường bên phải LD hướng đi PĐ đường hai chiều, mặt đường thảm nhựa rộng 4m.

Xác định điểm mốc là trụ điện kép không xác định được số nằm ở góc ngã ba trước đường LD rẽ phải LLQ, trước số nhà 255 LD. Xác định mép đường bên phải đường LD hướng đi ngã tư PĐ làm mép đường chuẩn.

Tại hiện trường phát hiện vết chà cao su diện (2,1x0,5)m (ký hiệu (1) nằm trên mặt đường, dạng mờ, thẳng. Đầu vết (1) hướng về hướng Đăk Đoa, đuôi vết (1) hướng về hướng ngã tư PĐ. Điểm đầu vết (1) cách mép đường chuẩn 5m, cách mép cuối vạch người đi bộ sang đường hướng ĐĐ là 3,6m. Điểm cuối (1) cách mép đường chuẩn 4,8m. Từ điểm cuối (1) hướng về hướng ngã tư PĐ chếch vào mép đường chuẩn cách 0,8m là điểm đầu vết cày diện (1,9x0,4)m (ký hiệu (2). Vết (2) nằm trên mặt đường có dạng thẳng đứt quãng, đầu vết (2) hướng về hướng Đ Đ, đuôi vết (2) hướng về ngã tư PĐ. Điểm đầu vết (2) cách mép đường chuẩn 4,2m. Điểm cuối (2) cách mép đường chuẩn 4m, nằm dưới xe mô tô 81C1-062.55 (ký hiệu (3)). Xe (3) nằm ngã nghiêng qua trái nằm trên mặt đường, đầu xe hướng ra tim đường, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn. Tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 5m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 3,8m. Từ tâm trục bánh sau xe (3) hướng về hướng ngã tư Phù Đổng cách 0,6m là đầu vết cày diện (3,5x1,2)m (ký hiệu (4)). Vết (4) có dạng thẳng, đứt quãng, đầu vết (4) hướng về ĐĐ, đuôi vết (4) hướng về ngã tư PĐ. Điểm đầu vết (4) cách mép đường chuẩn 4,4m, cách mép đầu dải phân cách cứng bằng bê tông hướng đi ngã tư PĐ là 23,5m. Điểm cuối vết (4) là các vị trí tay nắm bên trái, gác chân sau bên trái, chân chống của xe mô tô biển số 81B2-564.02 (ký hiệu (5)). Xe (5) ngã nghiêng qua trái nằm trên mặt đường, đầu xe (5) hướng ra tim đường, đuôi xe hướng vào mép đường chuẩn. Tâm trục bánh trước xe (5) cách mép đường chuẩn 4,4m, cách tâm trục bánh trước xe (3) là 3,8m. Tâm trục bánh sau xe (5) cách mép đường chuẩn 3,2m.

Điểm mốc: Tâm trục bánh sau xe (3) cách mép ngoài gần nhất điểm mốc trụ điện kép là 13,9m.

* Kết quả khám nghiệm dấu vết trên các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, thể hiện:

Kết quả khám xe mô tô biển số 81C1-062.55: Xe mô tô biển số 81C1-062.55, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, số khung 18CY177299, số máy 52E4241904. Gương chiếu hậu bên phải bị mất mặt gương chỉ còn cần gương. Gác ba ga trước xe có khung ghế ngồi trẻ em, đệm ghế bung khỏi vị trí ban đầu, khung kim loại cong vênh móp méo diện (17x29)cm. Đầu tay nắm bên phải trầy xước kim loại diện (2,1x2,5)cm, tâm vết cách mặt đất 102cm, chiều hướng vết không xác định. Ốp nhựa bảo vệ đầu xe bên trái và đèn tín hiệu phía trước bên trái mài mòn nhựa diện (9x6,5)cm, tâm vết cách đất 84cm. Gác để chân trước bên phải cong vênh, móp méo từ dưới lên trên áp sát vào lốc máy. Phần đầu mài mòn kim loại diện (4x1,5)cm, điểm cao nhất cách mặt đất 38cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 18cm, phần cao su của gác kim loại này bị đẩy lệch vào trong 2cm. Mặt ngoài thanh kim loại để chân bị trầy xước kim loại (6x0,3)cm, tâm vết cách mặt đất 28cm, cách gác để chân trước bên phải 9,5cm, chiều hướng từ phải sang trái của xe (từ ngoài vào trong theo hướng nhìn của người mô tả). Ốp nhựa bảo vệ thân xe bên phải vỡ nhựa diện (30x10)cm, tâm vết cách mặt đất 65cm. Yên xe bị gãy chốt tại đầu yên xe, bung khỏi vị trí cố định, làm lộ các đồ đạc trong cốp xe, tạo độ hở 5,5cm. Biển số xe vỡ nhựa, cong vành móp méo diện (15x8)cm tại vị trí góc dưới bên trái, tâm vết cách mặt đất 51cm. Gác để chân sau bên trái vỡ thanh kim loại bắt cố định diện (3x0,5)cm, tâm vết cách mặt đất 31cm. Đầu chân chống đứng bên trái mài mòn kim loại diện (1,6x0,5)cm, chiều hướng từ sau ra trước, tâm vết cách mặt đất 21cm. Gác để chân trước bên trái cong vênh, lệch từ sau ra trước 30o, đầu gác bị mài mòn cao su chiều hướng từ sau ra trước, tâm vết cách mặt đất 21cm.

Kĩ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống phanh, còi, đèn bình thường.

Qua định giá, tại Bản Kết luận đình giá tài sản số 197/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố P, kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 81C1-062.55 là 570.000đồng.

Kết quả khám xe mô tô biển số 81B2-564.02:

Xe mô tô biển số 81B2-564.02, nhãn hiệu Honda, loại Airblade, số khung 6327JZ000934, số máy JF63E2358409. Ốp nhựa bảo vệ đầu xe bên trái, vị trí hộp nhựa điều khiển vỡ nhựa bung khỏi vị trí cố định, diện (13x3,9)cm, tạo độ hở 2cm, tâm vết cách mặt đất 106cm. Mặt ngoài tay nắm bên trái mài mòn nhựa, kim loại kích thước (3x2)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, tay nắm này bị cong vênh kim loại từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, lệch so với ban đầu 5cm. Bên trái mặt nạ phía trước đầu xe (vị trí thanh giữ phanh) vỡ nhựa dài 17cm, tâm vết cách mặt đất 91cm. Đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu trước vỡ nhựa bung khỏi vị trí cố định, kích thước (43x29)cm, vị trí cao nhất cách mặt đất 72cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 54cm, làm hệ thống đèn chỉ còn dính lại bằng dây điện với xe, vỡ nhựa (20x15)cm. Dè chắn bùn phía trước bánh trước (20x17)cm, tâm vùng mảnh vỡ cách mặt đất 49cm. Mâm xe bánh trước cong vênh móp méo kim loại, có hai vết nứt vỡ; vết 1 diện (25x7)cm, tâm vết cách chân van 42cm theo chiều tiến của xe; vết 2 (12x7)cm, tâm vết cách chân van 33cm theo chiều lùi; cả hai vết đều có chiều hướng từ ngoài vào trục bánh. Lốp cao su bánh trước bị rách diện (10x6)cm, chiều hướng vết rách theo chiều ngang của bánh xe và ngay tại vị trí vết móp mâm thứ nhất. Bảng chắn gió phía trước bên phải vỡ nhựa diện (40x50)cm, tâm vết cách mặt đất 65cm. Tại vị trí cạnh ngoài của gác để chân phía trước bên phải trầy xước nhựa kích thước (39x3,5)cm, bung khỏi vị trí cố định tạo độ hở 3,5cm, tâm cách đất 29cm (theo lời khai của H là vết cũ, đã có từ trước). Bên trái thanh kim loại bảo vệ đuôi xe vỡ nhựa bọc ngoài, mài mòn kim loại nhựa diện (9,1x1,5)cm, chiều hướng không xác định, tâm vết cách đất 77cm (tay nắm sau xe). Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ lọc gió (phía sau bên trái xe) trầy xước nhựa diện (18x5)cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, tâm vết cách mặt đất 32cm. Gác để chân phía sau bên trái gãy chốt cố định, kẹt cứng từ trên xuống dưới, phần đầu gác chân này mài mòn kim loại diện (1x0,5)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới. Bên trái chân chống đứng cong vênh kim loại áp sát vào lốc máy làm rách kim loại diện (8x4)cm, tâm vết cách đất 14cm. Ốp nhựa bảo vệ thân xe phía bên trái mài mòn nhựa diện (4,5x3,2)cm, tâm vết cách đất 49cm, chiều hướng vết không xác định, bửng chắn gió bên trái vỡ nhựa diện (40x40)cm. Gác để chân trước bên trái, mặt ngoài bị trầy xước, vỡ nhựa diện (29x3,2)cm, tâm vết cách đất 19cm, chiều hướng từ trên xuống dưới. Chảng ba cong vênh làm bánh trước cong lệch từ trước ra sau, từ trái sang phải góc 30o.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Phanh tay hai bên bó kẹt mấy hiệu lực không di chuyển được xe. Hệ thống lái cong lệch. Tại thời điểm kiểm tra không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy.

Qua định giá, tại Bản Kết luận đình giá tài sản số 197/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố P, kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô biển số 81B2-564.02 là 5.250.000đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Các kết quả khám nghiệm hiện trường và các dấu vết trên phương tiện giao thông có liên quan, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 318/21/HS ngày 30/12/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Gia Lai, Bản kết luận định giá số 197/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thành phố P.

Ý kiến của người tham gia tố tụng: người đại diện hợp pháp của người bị hại (Lời khai tại hồ sơ): Anh Nguyễn Trung T: Gia đình đã nhận 80.000.000đồng tiền bồi thường từ bị cáo, đã nhận lại xe, gia đình xin bãi nại, và không có yêu cầu dân sự gì đối với H.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ như Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ: điều khiển xe mô tô biển số 81B2-564.02 nH không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ về đến mức an toàn khi đến đường giao nhau nên đã gây gây tai nạn làm chết 01 người. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a và b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Tình trạng tai nạn giao thông đang diễn biến phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt đối với đời sống xã hội. Nhà nước đang đẩy mạnh công tác đấu tranh để giảm thiểu tình trạng này. Phương tiện xe ô tô khi tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, vì vậy đòi hỏi mọi người khi tham gia giao thông đểu phải tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho người điều khiển và người xung quanh. Bị cáo là người nhận thức rõ về điều này nH khi điều khiển xe tham gia giao thông lại không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật: Không có bằng lái xe theo quy định, sử dụng chất kích thích, không đảm bảo nguyên tắc an toàn giao thông, không chú ý quan sát, gây tai nạn làm chết 01 người. Xét toàn bộ các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa: Biên bản khám nghiệm xe, biên bản hiện trường thì thấy lỗi trong vụ tai nạn giao thông thuộc về bị cáo, bên cạnh đó, bị hại Phan Thị M cũng có một phần lỗi điều khiển xe sang đường không chú ý quan sát. Bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi.

. Xét quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi xảy ra tai nạn đã đầu thú và bồi thường thiệt hại cho người bị hại; người đại diện hợp pháp đã có đơn xin bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; hội đồng xét thấy áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt dưới khung đối với bị cáo là phù hợp.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về dân sự: Huỳnh Tấn H đã bồi thường cho gia đình bị hại Mười số tiền 80.000.000 đồng, ông Nguyễn Trung T không có yêu cầu gì thêm về dân sự, có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Huỳnh Ngọc Lý có đơn bãi nại, từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì về dân sự. Bà Trần Thị Ph không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 81C1-062.55, nhãn hiệu Honda, số loại Wave S và 01 chiếc xe mô tô biển số 81B2-564.02, nhãn hiệu Honda, loại Airblade, sau khi khám nghiệm dấu vết và định giá, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho ông Nguyễn Trung T và bà Trần Thị P là chủ sở hữu.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” .

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng điểm a và b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự 2015;

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14;

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn H 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

4. Các vấn đề khác:

- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn H phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Những người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ