vanban.org

Bản án 106/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 08/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M L
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106 /2022/HSST
Ngày: 08/11/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M L – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Diệu Kim Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Lan, ông Kiều Xuân Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên TAND huyện M L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M L tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy Thức – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M L xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 77/HSST-QĐ ngày 03/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lã Văn T, sinh năm 1989. Nơi ĐKHKTT và cư trú: thôn L, xã M L, huyện M L, TP. Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Dân tộc: kinh; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Lã Văn Q, sinh năm 1950 và bà Đỗ Thị M, sinh năm 1956; Vợ con không có

- Tiền sự: không

- Tiền án:

+ Ngày 28/8/2017, bị TAND huyện M Lh, TP.Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích

+ Ngày 27/11/2018, bị TAND huyện M L, TP.Hà Nội xử phạt 04 năm tù về cướp tài sản theo khoản 2 Điều 171 BLHS. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án nhưng chưa được xóa án tích

Nhân thân:

- Ngày 21/5/2007 bị TAND huyện M L, TP. Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 135 BLHS. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án tích.

- Ngày 31/7/2009 bị TAND huyện M L, TP. Hà Nội xử phạt 03năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 HSST. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án tích.

- Năm 2012, đi cai nghiện 02 năm tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội Vĩnh Phúc theo quyết định số 1843/QĐ-CT ngày 07/9/2012 của Chủ tịch thị xã Phúc Yên.

Bị cáo bị bắt từ ngày 01/7/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại giam số 1- CA thành phố Hà Nội ( có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Tuấn- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội. (có mặt)

Danh chỉ bản số 217 ngày 2/7/2022 tại Công an huyện M L

NỘI DUNG V N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do là đối tượng nghiện ma túy nên Lã Văn T thường xuyên đi mua ma túy loại “Heroine” về để sử dụng. Khoảng 07 giờ ngày 01/7/2022, T một mình bắt xe Buyt đi đến khu vực xã Th, thành phố Ph, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy. Tại đây, T mua của một người đàn ông ở ria đường (không biết tuổi, địa chỉ cụ thể) được 01 túi ma túy “Heroine” với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, về nhà T lấy một ít ra để sử dụng. Số ma túy còn lại T cho vào bao thuốc lá Thăng Long rồi cất trong túi quần của mình. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Công an xã M L yêu cầu T đến để xét nghiệm nước tiểu tìm chất ma túy. Quá trình làm việc Lã Văn T đã tự nguyện giao nộp 01 túi ma túy Heroine nên Công an xã M L đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ số vật chứng để xác minh làm rõ.

Ngày 01/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M L tiến hành, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lã Văn T tại thôn L, xã M L, huyện M L, thành phố Hà Nội, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì lên quan đến vụ án.

* Vật chứng vụ án:

Quá trình bắt giữ đối tượng và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan gồm:

- Thu giữ của Lã Văn T: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 04 điều thuốc lá đầu lọc nhãn hiệu Thăng Long; 01 túi ni lông kích thước 2,5cm x 3cm bên trong có chứa chất bột màu trắng được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu là A1.

Tại Kết luận giám định số 4813/KL- KTHS ngày 08/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,242 gam.

Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy mẫu trong phong bì ký hiệu A1 là 0,010 gam làm mẫu giám định, phần còn lại là 0,232 gam ma túy loại Heroine hoàn trả Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ngày 01/7/2022 tại khu vực xã Th, thành phố Ph, tỉnh Thái Nguyên: Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 20/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo Lã Văn T về tội “Tàng trữ trái phét chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo T nhất trí với nội dung bản cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lã Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS

Xử phạt Lã Văn T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù;

Về vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo phát biểu:

Về tội danh, điều luật áp dụng nhất trí không có ý kiến gì. Đề nghị HĐXX xem xét tình tiết bố bị cáo có thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo bị ảnh hưởng chất độc da cam được hưởng trợ cấp hàng tháng nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận gì khác và đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2]- Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Lã Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 16h30 ngày 01/7/2022, tại thôn 2 Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện M L, thành phố Hà Nội, Lã Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,242g ma túy loại Heroin thì bị Công an xã M L phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Cụ thể điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. ...

c) … Heroin… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: ……

o) Tái phạm nguy hiểm”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh trật tự và an toàn trong xã hội, xâm phạm đến việc độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Hiện nay tệ nạn nghiện hút chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy diễn ra rất phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội, từ tệ nạn về ma túy là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có 02 tiền án đã xóa án tích và 02 tiền án chưa được xóa án tích nhưng không rèn luyện tu dưỡng bản thân lại tiếp tục tàng trữ trái phép ma túy, bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo được tính là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy cần xử phạt nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội, do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng không có; tình tiết giảm nhẹ: bị cáo Tuyên sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

[3]- Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ.

[4]- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT Đ NH

Tuyên bố bị cáo Lã Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lã Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 01/7/2022.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ 0,232 gam ma túy loại Heroin do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận giữa cơ quan điều tra và cơ quan Thi hành án huyện M L ngày 01/11/2022)

* Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ