vanban.org

Bản án 106/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 106/2022/HS-ST
Ngày 30-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Xuân Giới;

2. Ông Trần Văn Nam.

Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Đức Trọng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 21/6/1986, tại thị xã D, tỉnh Quảng Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú/Cư trú hiện nay: thôn Y, xã H, thị xã D, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Công S và bà Phạm Thị X, sinh năm 1962. Có vợ và 03 con; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2013, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 25/6/2015, chấp hành xong quyết định; bị bắt quả tang ngày 17/6/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Thị Có mặt.

* Người chứng kiến: Nguyễn Văn T, Nguyễn Tiến M. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 17/6/2022, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn Yên Dưỡng, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Đông Triều phát hiện, bắt quả tang Lê Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Lê Văn Đ 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 (một) gói giấy có chữ và dòng kẻ, bên trong gói giấy có chữ và dòng kẻ chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của Lê Văn Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14Z1-314.60.

Quá trình điều tra, Lê Văn Đ khai nhận: Khoảng tháng 4/2022, qua giới thiệu của bạn nghiện, Đức biết Vũ Văn Đ (tên thường gọi là Đ, trú tại: Thôn 6, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng), có bán ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 17/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-314.60 đi đến nhà Đ rồi gặp và thỏa thuận để mua ma túy. Tại đây, Lê Văn Đ đưa cho Đ 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) ma túy. Sau khi mua được ma túy rồi đứng đợi ở ngoài sân, còn Đ đi vào nhà lấy và đưa cho Lê Văn Đ 01 (một) gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Biết đây là ma túy, Lê Văn Đ cầm trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến thôn Yên Dưỡng, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, thì Lê Văn Đ bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Thị H có lời khai với nội dung như sau:

Chị là vợ của bị cáo Lê Văn Đ. Nguồn gốc chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-314.60 bị cáo Lê Văn Đ sử dụng xe mô tô đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của chị (có giấy tờ đăng ký xe mang tên chủ sở hữu Ngô Thị H). Việc Lê Văn Đ sử dụng xe mô tô đi mua ma túy chị không biết. Chiếc xe đã được cơ quan công an trả lại cho chị nên chị không có ý kiến nào khác.

Những người chứng kiến Trịnh Văn C và Ngô Văn K có lời khai khẳng định được chứng kiến quá trình bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng của cơ quan công an đối với bị cáo Lê Văn Đ theo quy định của pháp luật.

Tại bản Kết luận giám định số 1000 ngày 23/6/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật thu giữ của Lê Văn Đ là chất ma túy; Loại Heroine; Khối lượng: 0,283 gam (không phẩy hai tám ba gam).

(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT: 09 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ Ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).

Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKS-ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Văn Đ về tội “Tàng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt chính:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2022.

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1000/KL-KTHS ngày 23/6/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;

Tại phần tranh luận, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều; đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Đông Triều và điều tra viên; của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Điều tra Công an thị xã Đông Triều và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố điều tra và truy tố. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ: Lê Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điền tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngô Thị H; người làm chứng Nguyễn Văn T và Nguyễn Tiến M về việc chứng kiến toàn bộ quá trình kiểm tra hành chính, thu giữ vật chứng và bắt giữ bị cáo Lê Văn Đ. Kết hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản xác định hiện trường; biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định... Các tài liệu chứng cứ nêu trên đều được thu thập theo đúng trình tự tố tụng, hợp pháp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 17/6/2022, tại đường liên thôn thuộc thôn Yên Dưỡng, xã Hồng Thái Đông, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Lê Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,283 gam (không phẩy hai tám ba gam) chất ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an thị xã Đông Triều phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lê Văn Đ đã xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện. Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi của mình và hiểu rõ tác hại của ma túy cũng như sự nghiêm cấm của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy. Do ý thức chấp hành pháp luật kém, bị cáo đã sa vào con đường nghiện hút, mua ma túy về sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của bị cáo Lê Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

...”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố bị cáo Lê Văn Đ ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về nhân thân: năm 2013, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện; xét nhân thân của bị cáo cùng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải buộc bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội; đồng thời, đảm bảo tính phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc tịch thu tài sản. Trong vụ án này, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không có công việc ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

+ Vật chứng vụ án là số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 14Z1-314.60 Lê Văn Đ sử dụng đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của chi Ngô Thị H. Chị H không biết việc Lê Văn Đ sử dụng chiếc xe này đi mua ma túy, cơ quan Điều tra công an thị xã Đông Triều đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với Vũ Văn Đ là người bán ma túy theo lời khai của Lê Văn Đ, quá trình điều tra xác minh hiện Vũ Văn Đ vắng mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết Vũ Văn Đ đi đâu, làm gì và bao giờ về. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đông Triều tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2021.

[2] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1000/KL-KTHS ngày 23/6/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh;

(Tình trạng các vật chứng tại biên bản giao nhận vật chứng số 121 ngày 05/9/2022 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).

[3] Căn cứ: khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14:

Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ