vanban.org

Bản án 106/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trong thời gian thử th ch, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản n đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị c o được hưởng n treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Th hành án hình sự; Án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi V Ch đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Trong thời gian thử th ch, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản n đã cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2022/HS-PT
Ngày: 17/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Ngữ

Ông Hà Văn Nâu

- Thư ký phiên toà: Bà Giáp Thị Loan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 17/7/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2022/TLPT-HS ngày 16/6/2022 đối với bị cáo Bùi Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HSST ngày 12/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên Bùi Văn C, sinh năm 1964 (tên gọi kh c: kh ng có ; Nơi Đ H TT và ch ở: thôn T M, xã T T, huyện L G, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: inh; T n gi o: kh ng; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/10; Bố đẻ Bùi Văn Q, sinh năm 1933 (đã chết ; Mẹ đẻ Trần Thị H sinh năm 1939 (đã chết ; Gia đình có 09 anh em, bị c o là thứ hai; Vợ Đặng Thị T, sinh năm 1965; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1988; Tiền n: không có.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành Chh số 07/QĐ-XPHC ngày 30/3/2021 của Công an xã T T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đ nh bạc, đã nộp phạt ngày 01/4/2021. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án này còn có một số Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kh ng có kh ng c o và liên quan đến kháng cáo, Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Ngày 29/01/2022, gia đình ông Lê Văn N làm cơm tất niên có mời anh

em, con, cháu, họ hàng đến ăn cơm trong đó có Bùi Văn C, Bùi Văn Ch, Bùi Văn Th, Nguyễn Văn T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, sau khi mọi người ăn uống xong và đi về, ông Nh cùng người thân đi sắm đồ tết, Ch đã khởi xướng, rủ C, Th và T đ nh bạc. Sau đó, Ch đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ về cùng C, Th và T bắt đầu ngồi đ nh bạc tại chiếu nhựa ăn cơm tại phòng kh ch trước cửa Chh nhà ông Nh. C ngồi giữa cửa Chh, quay mặt vào trong nhà, bên phải C là T, bên trái C là Th, ngồi đối diện với C là Ch. C c đối tượng thống nhất đ nh bạc dưới hình thức chơi “Liêng” được thua bằng tiền với cách thức chơi được quy định như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ A đến K; M i người chơi sẽ được chia 03 quân bài, trước v n chơi, m i người chơi sẽ bỏ ra số tiền 10.000 đồng xuống chiếu bạc (gọi là tiền “gà” . Sau khi xem bài thì m i người chơi có quyền tố thêm tiền hoặc bỏ bài (lượt bắt đầu từ người được chia bài); Nếu người chơi cảm thấy bài của mình thắng được bài của những người chơi còn lại thì tố thêm tiền vào “gà”; nếu cảm thấy thua bài của những người chơi còn lại thì bỏ bài; Người chơi được tố thêm tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng; Lần lượt từng người chơi có thể tố thêm tiền hoặc bỏ bài theo thứ tự. Người tố sau có thể theo tiền tố của người trước hoặc tố thêm tiền hoặc bỏ bài. Người chơi nào không bỏ bài trong khi những người chơi kh c đều bỏ bài hoặc người chơi nào có bài cao nhất thì thắng toàn bộ số tiền “gà”. Quy định bài có 03 quân cùng số được gọi là “S p” (“S p” A là to nhất; “S p” 2 là nhỏ nhất lần lượt thứ tự đến “S p” ; Người chơi có 03 quân bài theo thứ tự hàng dọc liền nhau được gọi là “Liêng” (“Liêng” 1,2,3 là nhỏ nhất đến “Liêng” Q, ,A là to nhất : Người chơi có 03 quân bài gồm: J, Q, K không liên tiếp được gọi là “Ảnh” (“Ảnh” nhiều J bé nhất, lớn dần đến K ); Nếu kh ng có “S p”, “Liêng” hoặc “Ảnh” thì cộng 03 quân bài lại với nhau (9 điểm là to nhất; 0 điểm là nhỏ nhất); Khi so bài thì “S p” to hơn “Liêng”, “Liêng” to hơn “Ảnh”, “Ảnh” to hơn điểm. C c đối tượng đang đ nh bạc với nhau đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã T T kiểm tra hành Chh, phát hiện và thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan gồm: 01 chiếu nhựa kích thước (390x178 cm cũ, đã qua sử dụng; 03 quân bài tú lơ khơ và số tiền 800.000 đồng tại chiếu đ nh bạc. Khi bị phát hiện Bùi Văn C; Bùi Văn Th và Nguyễn Văn T bỏ chạy. Cùng ngày 29/01/2022, Bùi Văn C đến Công an T T đầu thú về hành vi phạm tội của mình và nộp lại số tiền 60.000 đồng khi bỏ chạy cầm theo.

Về số tiền sử dụng khi tham gia đ nh bạc: Bùi Văn C khai nhận khi tham gia đ nh bạc có số tiền 110.000 đồng, khi bỏ chạy cầm theo số tiền 60.000 đồng; Nguyễn Văn T khai khi tham gia đ nh bạc có số tiền 120.000 đồng, khi bỏ chạy cầm theo số tiền 50.000 đồng; Bùi Văn Ch khai khi tham gia đ nh bạc có số tiền 200.000 đồng, khi bị phát hiện tiền đều để ở chiếu bạc; Bùi Văn Th khai khi tham gia đ nh bạc có số tiền 380.000 đồng, khi bỏ chạy không cầm theo tiền.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 34/2022/HS-ST ngày 12/5/2022 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS: Xử phạt Bùi Văn C 07 (bảy) tháng tù về tội "Đ nh bạc". Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt giam để Th hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo.

Án xử xong, ngày 26/5/2022 bị cáo Bùi Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn C rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo trình bày n sơ thẩm xử bị c o là đúng người, đúng tội. Bị c o xin được hưởng án treo lý do bị c o đã nhận thức được sai lầm, ăn năn hối cải, bị cáo xuất trình biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm và giấy chứng nhận có thời gian 03 năm 03 th ng phục vụ trong quân đội, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ n, đ nh gi hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị c o. Đại diện Viện kiểm sát ý kiến tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, xuất trình biên lai nộp án phí hình sự sơ thẩm và giấy chứng nhận có thời gian 03 năm 03 th ng phục vụ trong quân đội là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ vào mức độ, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, sửa n sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kh ng c o: đơn kh ng c o của bị cáo C nộp trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang theo đúng quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo HĐXX thấy, qua xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đủ cơ sở x c định: khoảng 13 giờ ngày 29/01/2022, tại gia đình ng Lê Văn N, sinh năm 1956 ở thôn Nguộn, xã T T, huyện L G, tỉnh Bắc Giang. Bùi Văn C cùng với Nguyễn Văn T, Bùi Văn Ch và Bùi Văn Th đang có hành vi đ nh bạc trái phép, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đ nh “Liêng” thì bị tổ công tác Công an xã T T, huyện L G lập biên bản kiểm tra hành Chh. Tổng số tiền c c đối tượng dùng vào việc đánh bạc x c định là 910.000 đồng. Ngày 30/3/2021, Bùi Văn C đã bị Công an xã T T, huyện Lạng Giang xử phạt vi phạm hành Chh về hành vi đ nh bạc, bị cáo nộp phạt số tiền 1.500.000 đồng vào ngày 01/4/2021, đến ngày 29/01/2022 bị cáo C lại tiếp tục thực hiện hành vi đ nh bạc, bị c o là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đ nh bạc là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của Bùi Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đ nh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 07 tháng tù về tội “Đ nh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo HĐXX thấy: sau khi Tòa n sơ thẩm xét xử, bị c o đã có ý thức nộp án phí sơ thẩm thể hiện sự ăn năn, hối cải của bị cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình giấy xác nhận có thời gian phục vụ trong quân đội 03 năm 03 th ng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm, xét bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị c o ra đầu thú, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, có ý thức nộp tiền án phí là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, vi phạm hành Chh của bị cáo sử dụng là tình tiết định tội nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị c o hưởng n treo theo quy định tại Điều 65 BLHS, phù hợp với hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 th ng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đối với kh ng c o xin được hưởng án treo của bị c o là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kh ng c o được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Các quyết định khác của n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kh ng c o của bị c o Bùi Văn C, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị c o hưởng n treo. Xử: Sửa n sơ thẩm.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt Bùi Văn C 07 (bảy) tháng tù về tội "Đ nh bạc", nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T T, huyện L G, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử th ch, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản n đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị c o được hưởng n treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Th hành án hình sự;

2.Án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. C c quyết định kh c của bản n sơ thẩm kh ng có kh ng c o, kh ng nghị có hiệu lực ph p luật kể từ ngày hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ