- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về xin ly hôn giữa nguyên đơn bà Nèang L với bị đơn ông Chau R"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 106/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-09-2022 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Nam Phú.
Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Thanh;
Ông Nguyễn Thanh Thuần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên Tòa: Bà Neàng Sa Men - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 09 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử
sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp "xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 09 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nèang L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ 05, ấp M, xã G,
huyện B, tỉnh An Giang, vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Chau R, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp H, xã G, huyện B, tỉnh An Giang, vắng mặt.
3. Người phiên dịch: Ông Chau Xi Nê - Phiên dịch viên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn bà Nèang L trình bày:
- Về hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn ông Chau R kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G vào ngày 19/01/2007. Sau khi kết hôn, bà Nèang L và ông Chau R chung sống tại ấp H, xã G, huyện B, tỉnh An Giang.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẩn do bị dơn không chịu làm ăn, chăm lo cho gia đình, lại thường xuyên ăn nhậu, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng bị đơn không sửa đỗi, lại thường xuyên dùng lời lẻ thô tục chửi mắn và đánh đập nguyên đơn, từ đó dẫn đến vợ chồng bất hòa, thường xuyên cự cãi nhau. Đến cuối năm 2012, nguyên đơn về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, nguyên đơn và bị đơn cũng không còn sống chung và không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống. Nay nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Chau R.
- Về quan hệ con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung tên Nèang Ly S, sinh ngày 14/7/2006 và Chau Sây H1, sinh ngày 17/11/2010. Nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi các con Nèang Ly S và Chau Sây Ha, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn ông Chau R cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn ông Chau R như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chỉ có nguyên đơn bà L có mặt, bị đơn ông Chau R vắng mặt (không có lý do) nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.
Ngày 13/09/2022, Tòa án mở phiên tòa xét xử và đã triệu tập hợp lệ các đương sự nhưng nguyên đơn bà Nèang L vắng mặt (có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt), bị đơn ông Chau R vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nèang L vắng mặt (có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt), bị đơn ông Chau R tiếp tục vắng mặt không có lý do và không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: nhận thấy hôn nhân giữa bà Nèang L và ông Chau R là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo luật hôn nhân gia đình, tuy nhiên cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc, mâu thuẫn phát sinh, không hàn gắn được, bà Nèang L và ông Chau R sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nhận thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Chau R không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình, thể hiện qua việc ông Chau R không tham các phiên hòa giải, không quan tâm đến việc bà Nèang L có yêu cầu ly hôn đối với ông. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân bà Nèang L và ông Chau R đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Nèang L xin được ly hôn với ông Chau R.
- Về con chung: Bà Nèang L và ông Chau R có hai con chung tên Nèang Ly S, sinh ngày 14/7/2006 và Chau Sây H1, sinh ngày 17/11/2010, hiện đang sống chung với bà Nèang L. Khi ly hôn, bà Nèang L yêu cầu được nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của các em Nèang Ly S, Chau Sây H1. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung chưa thành niên tên Nèang Ly S và Chau Sây H1 cho bà Nèang L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Chau R không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nèang L không yêu cầu.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Nèang L không yêu cầu Tòa án giải quyết và khai không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hôn nhân gia đình về việc xin ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại trên địa bàn huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt); bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần 2, nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự và xét xử vụ án theo trình tự thủ tục quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quan hệ hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2007, nay phát sinh tranh chấp thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo quy định tại Điều 109 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện B, tỉnh An Giang theo đúng quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân gia đình 2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Theo lời trình bày của nguyên đơn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn xuất phát từ việc bị đơn không chịu làm ăn, chăm lo cho gia đình, lại thường xuyên ăn nhậu, nguyên đơn đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng bị đơn không sửa đỗi, lại thường xuyên dùng lời lẻ thô tục chửi mắn và đánh đập nguyên đơn, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay.
Theo quy định tại Điều 18 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nhưng nguyên đơn và bị đơn đã không còn sống chung với nhau từ năm 2012 đến nay, do nhiều bất đồng trong quan điểm sống. Từ đó, cho thấy tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, không thể hàn gắn để đoàn tụ sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Về quan hệ con chung: Nguyên đơn và bị đơn có hai con chung tên
Nèang Ly S, sinh ngày 14/7/2006 và Chau Sây H1, sinh ngày 17/11/2010. Quá trình tố tụng, bị đơn không có ý kiến về nuôi dạy con chung, việc nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp với nguyện vọng của các em Nèang Ly S và Chau Sây H1, xét chấp nhận, giao con chưa thành niên tên Nèang Ly S và Chau Sây H1 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 91, 92, 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.
Bà Nèang L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Chau R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ
chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo căn cứ do pháp luật quy định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung; về quan hệ tài sản chung và nợ chung:
Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết và khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án.
Quá trình tố tụng, bị đơn ông Chau R không có ý kiến bằng văn bản, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hồi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Bà Nèang L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007618 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B. Bà Nèang L đã nộp đủ án phí.
Ông Chau R không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 218; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 9, 11, 89, 91, 92, 93 và Điều 94 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2000;
- Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nèang L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nèang L được ly hôn ông Chau R.
Giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã G, huyện B, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao các con chưa thành niên tên Nèang Ly S, sinh
ngày 14/7/2006 và Chau Sây H1, sinh ngày 17/11/2010 cho bà Nèang L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Chau R không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Nèang L cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Chau R trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dạy con chung;
Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ
chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người người nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nèang L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0007618 ngày 15/3/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B. Bà Nèang L đã nộp đủ án phí.
Ông Chau R không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. R đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản bán được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Châu Nam Phú |