- Tranh chấp gì? án hình sự — "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:106/2021/HS-ST Ngày 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành, bà Lê Thị Tuyết Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021, Thông báo thay đổi lịch xét xử số 357/TB-TAH ngày 16/8/2021 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 424/TB-TAH ngày 06/9/2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh năm 1990, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi cư trú: ấp BT, xã PV, huyện DQ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân H1, sinh năm 1946 và bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1950, có 04 anh chị em ruột, vợ con chưa có.
Tiền sự: không.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 16/5/2019, H bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 04 tháng 04 ngày tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2020 nhưng chưa thi hành nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai từ ngày 15/5/2021 đến nay.
- Người làm chứng: Ông Phạm Đặng Bích L, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã TC, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 35 phút ngày 15/5/2021, Công an xã Trà Cổ tiến hành kiểm tra hành chính chỗ ở của Phạm Văn H. Quá trình điều tra H khai gặp một số người bạn ở Thành phố Hồ Chí Minh và được bạn rủ cho sử dụng chất ma túy, sau khi sử dụng xong thì một người bạn tên T (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đã cho H 01 gói ma túy đá không lấy tiền để về sử dụng. Đến khoảng 17 giờ ngày 15/5/2021, khi H đang ngồi ở phòng số 5 Karaoke N thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt người phạm tội qua tang, H cất giấu 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng đỏ trong túi quần đang mặc trên người, H thừa nhận đây là ma túy đá để sử dụng.
Tang vật thu giữ:
- 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng kích thước 2 x2cm, ma túy đá có trọng lượng 01 gam;
- 03 nỏ thủy tinh, 01 bình thủy tinh đựng nước cất, 05 con dao mã tấu;
- 01 bóp da bên trong có 05 tờ polime mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ USD ghi mệnh giá 100 mỗi tờ;
- 01 điện thoại di động Oppo A31; 01 Iphone 5 màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 1047/KLGĐ-PC09 ngày 21/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, mẫu tinh thể màu trắng - đỏ được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,7514 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,6802 gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số: 1047/KLGĐ-PC09 của Công an tỉnh Đồng Nai.
Tại Bản cáo trạng số 145/CT-VKSTP-ĐN ngày 12/7/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Vào lúc 17 giờ 35 phút ngày 15/5/2021, tại phòng số 5 Karaoke N tại ấp S, xã TC, huyện TP, Phạm Văn H đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma tuý đá trong túi quần đang mặc trên người để sử dụng thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt người phạm tội quả tang. Căn cứ kết luận giám định có khối lượng 0,7514 gam, loại Methamphetamine là ma túy. Như vậy hành vi của H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố là đúng người đúng tội.
Về hình phạt: Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2018 đến nay. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý, sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần của người nghiện ma túy, còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển… trái phép chất ma túy. Bị cáo có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên thuộc trường hợp tái phạm. Trước đây bị cáo đã từng là đảng viên, có nhận thức hiểu biết về pháp luật nhưng do vi phạm pháp luật nên đã bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng ngày 10/02/2020. Bị cáo chỉ vì ham chơi bạn bè mà sống buông thả, không ăn năn sửa đổi, tu dưỡng rèn luyện bản thân và có thái độ coi thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo 01 mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, do bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đồng thời cha của bị cáo là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạng 3 nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1047/KLGĐ-PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,6802 gam, 03 nỏ thủy tinh, 01 bình thủy tinh đựng nước cất, 05 con dao mã tấu tự chế, vì đây là các công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng.
- Đối với 01 bóp da bên trong có 05 tờ polime mệnh giá 100.000 đồng, 02 tờ USD ghi mệnh giá 100 mỗi tờ; 01 điện thoại di động Oppo A31; 01 Iphone 5 màu trắng là tài sản hợp pháp của Phạm Văn H không dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp.
Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra, Phạm Văn H khai có đối tượng tên “T không rõ nhân thân, lại lịch, địa chỉ” cho H ma túy để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ chứng cứ đề xuất xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như về hình phạt đối với bị cáo phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2021.
Áp dụng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
2. Vật chứng vụ án
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1047/KLGĐ-PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,6802 gam, 03 nỏ thủy tinh, 01 bình thủy tinh đựng nước cất, 05 con dao mã tấu tự chế theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 12/7/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú.
Áp dụng: khoản 2, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Phạm Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú; - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú; - CQ THA hình sự Công an huyện Tân Phú; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |