vanban.org

Bản án 106/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Lò Văn H 07 ( bảy) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-6-2020 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn H, phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2020/HSST
Ngày: 24-9-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lường Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Vinh;

Ông Thào A Páo;

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Lò Văn Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2020/HSST, ngày 07-9-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HS, ngày 14-9 -2020 đối với bị cáo:

Lò Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1996; tại xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn S ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 07-8-2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 ( ba mươi) tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 01-11-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 15 ( mười lăm) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt giam giữ kể từ ngày 12-6-2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ, ngày 12-6-2020, Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Lò Văn H; trú tại: Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:

- Một gói nilon màu hồng, bên trong có chứa 30 ( ba mươi) viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma túy hợp ( Lò Văn H khai là ma túy tổng hợp), có khối lượng 03 gam, trích rút 0,55 gam ký hiệu H1 làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy. Còn lại 2,45 gam ký hiệu H2 nhập kho vật chứng.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEL1: 358307102018444, số IMEL2: 358307102018451, máy đã qua sử dụng.

Bản kết luận giám định số: 984, ngày 16-6-2020 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “ Mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,55 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 03 gam loại Methamphetamine”. ( Mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Tại cơ quan điều tra Lò Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 12-6-2020, Lò Văn H đi bộ từ nhà ra khu vực chợ TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La hỏi mua được 35 ( ba mươi lăm) viên ma túy tổng hợp với giá là 1.400.000đ của một người thanh niên dân tộc Thái ( Lò Văn H không biết tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) mục đích để sử dụng và bán lại kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Lò Văn H mang về nhà lấy ra 05 viên để sử dụng, còn lại Lò Văn H gói lại băng nilon màu hồng rồi cất vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì có một thanh niên tên H1 nhà ở Thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La ( Lò Văn H không biết họ và địa chỉ cụ thể của H1) gọi điện thoại hỏi mua ma túy tổng hợp của H với giá 1.500.000đ. H đồng ý vào hẹn gặp H1 ở Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để trao đổi mua bán ma túy. H cầm 30 viên ma túy tổng hợp được gói bằng nilon màu hồng của H bên tay phải rồi đi bộ từ nhà ra khu vực Bản S, xã TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La để bán ma túy cho H1.

Khi Lò Văn H đi được khoảng 50 mét thì gặp tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện và bắt quả Lò Văn H có hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số: 105/CT-VKS, ngày 07-9-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đề nghị truy tố Lò Văn H về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn H về điểm, điều, khoản và tội danh trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn H mức án từ 07 ( bảy) năm đến 07 ( bảy ) năm 6 ( sáu) tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn H.

Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiêu hủy: 2,45 gam ma túy loại Methamphetamine, ký hiệu H2 + 01 mảnh nilon hồng + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEL1: 358307102018444, số IMEL2: 358307102018451, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn H.

Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Lò Văn H: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

. Ngày 12-6-2020, Lò Văn H tàng trữ 30 viên ma túy tổng hợp có khối lượng là 03 gam, là chất ma túy loại chất Methamphetammine mục đích để bán cho một người thanh niên tên H1 ( nhà ở thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La). Khi chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo Lò Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Bị cáo đã có 02 tiền án về tội ma túy. Đã tái phạm chưa được xoá án tích nay lại phạm tội do lỗi cố ý “ Là tái phạm nguy hiểm”, được quy định điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn H mua bán trái phép chất ma túy mục đích để được hưởng lợi, thu lợi bất chính. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lây lan phát sinh các tệ nạn ma tuý và những tệ nạn xã hội khác. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội.

Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật. Cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội.

Bị cáo Lò Văn H đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp. Không áp dụng hình phạt bổ sung ( phạt tiền) đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy Lò Văn H khai mua của một nam thanh niên dân tộc Thái (Lò Văn H không biết họ tên và địa chỉ cụ thể ở đâu) tại khu vực chợ xã TL, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La vào ngày 12-6-2020 với giá 1.400.000đ. Do chỉ có lời khai duy nhất của Lò Văn H, ngoài ra không có chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với người thanh niêm tên H1, Lò Văn H khai là người đã gọi điện thoại hỏi mua ma túy của H. Tuy nhiên H không biết địa chỉ cụ thể của H1 ở đâu. Do chỉ có lời khai duy nhất của H, ngoài ra không có căn cứ nào khác nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xử lý.

. Về vật chứng vụ án: Đối với 2,45 gam ma túy loại Methamphetamine, ký hiệu H2 là hàng Nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với 01 mảnh nilon màu hồng + 01 ( một) vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Xét không còn giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEL1: 358307102018444, số IMEL2: 358307102018451, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn H là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về án phí: Bị cáo Lò Văn H là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lò Văn H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố Lò Văn H phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 07 ( bảy) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-6-2020 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo).

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106:

- Tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong, dán kín, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn H – Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 12-6-2020. 01 mảnh nilon màu hồng + 2,45 gam vien nén màu hồng + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 023942, đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu itel, màu đen, số IMEL1: 358307102018444, số IMEL2: 358307102018451, máy đã qua sử dụng

3. Về Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ