vanban.org

Bản án 106/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t bị cáo Ngô Mỹ L 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 24/10/2019.

Ph t bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đ ng nộp vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Mỹ L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t bị cáo Ngô Mỹ L 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 24/10/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2020/HS-ST
Ngày 31 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Năm

Bà Thái Thục Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2020 t i trụ s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Ngô Mỹ L; sinh năm 1994 t i Thành phố H Chí Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 449/35 H2 phường B qu n T, Thành phố H Chí Minh; chỗ : 78 đ4 Phường 6 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Bội Đ và bà Nguyễn Thị Kim A; có ch ng và 02 con con lớn sinh năm 2010 con nhỏ sinh năm 2015; tiền án tiền sự: Không có; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 24/10/2019 đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trịnh Minh Nh sinh năm 1984; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã B, huyện S tỉnh Quảng Ngãi; chỗ : Số 10 đ12 phường B qu n T Thành phố H Chí Minh). (vắng mặt)

2. Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ L; địa chỉ trụ s : 948 T Phường 15 qu n T, Thành phố H Chí Minh; người đ i diện hợp pháp: Anh Hà Sơn B sinh năm 1982 là người đ i diện theo ủy quyền của Giám đốc công ty. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 13 giờ ngày 24/10/2019 t i trước số 327 T Phường 11 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh Trinh sát Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy Công an Qu n 8 phát hiện Ngô Mỹ L đang điều khiển xe gắn máy biển số 76C1-264.47 do nghi vấn L có liên quan đến ma túy nên Công an yêu cầu L về trụ s Công an Phường 11 Qu n 8 kiểm tra. T i Công an phường, L tự lấy ra từ áo ngực ra 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 gói nylon bên ngoài quấn băng keo màu xanh bên trong chứa tinh thể không màu giao nộp cho Công an (L khai các tinh thể không màu là ma túy tổng hợp của L dùng để bán cho người nghiện). Công an tiến hành thu giữ ma túy và l p biên bản bắt người ph m tội quả tang đối với L, ngoài ra Công an còn t m giữ của L 02 điện tho i di động hiệu Iphone số tiền 2.000.000 đ ng và xe gắn máy biển số 76C1-264.47. Sau đó, chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra làm rõ.

Vào lúc 16 giờ phút cùng ngày 24/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 tiến hành lệnh khám xét nơi của Ngô Mỹ L t i nhà số 78 đ4 Phường 6 Qu n 8. Qua khám xét, Công an phát hiện t m giữ các v t chứng liên quan đến ma túy như sau:

- Dưới nệm trong phòng ngủ có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu;

- Trên loa âm thanh trong phòng có 01 hộp nhựa màu vàng trắng hiệu “Vsmart Bee” đựng: 04 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xanh; 01 ống hút nhựa v t nhọn 01 đầu;

- Trên bàn trong phòng có 02 cân tiểu ly.

T i Bản kết lu n giám định số 1997/KLGĐ-H ngày 29/10/2019, Phòng kỹ thu t hình sự Công an Thành phố H Chí Minh kết lu n:

- Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Mỹ L và hình dấu Công an Phường 11 Qu n 8 bên trong có:

+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 9,9406g (chín phẩy chín bốn không sáu gam) lo i Methamphetamine.

+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được quấn băng keo màu xanh là ma túy thể rắn, có khối lượng 0 6640g (không phẩy sáu sáu bốn không gam) lo i Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Mỹ L và hình dấu Công an Phường 6 Qu n 8, có khối lượng 98,0346g (chín tám phẩy không ba bốn sáu gam) không tìm thấy ma túy.

- Gói 3 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Ngô Mỹ L và hình dấu Công an Phường 6 Qu n 8 bên trong có:

+ Tinh thể không màu trong 02 gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 5,2509g (năm phẩy hai năm không chín gam) lo i Methamphetamine;

+ Tinh thể không màu trong 02 gói nylon là ma túy thể rắn, có khối lượng 9,7923g (chín phẩy bảy chín hai ba gam) lo i Ketamine.

+ 01 viên nén màu xanh trong 01 gói nylon có khối lượng 0 3404g (không phẩy ba bốn không bốn gam) không tìm thấy ma túy.

Quá trình điều tra Ngô Mỹ L khai nh n: Do cần tiền tiêu xài nên L nảy sinh ý định mua ma túy về bán l i để thu lợi bất chính. Từ ngày 21/10/2019 đến ngày 24/10/2019 L liên hệ qua điện tho i với một người phụ nữ tên “Đẹp” (không rõ lai lịch) để mua ma túy 02 lần, cụ thể:

Lần thứ nhất vào khoảng 16 giờ ngày 21/10/2019 L liên hệ mua 6.000.000 đ ng ma túy từ Đ và hẹn giao ma túy t i Công viên P Qu n 6. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L đến điểm hẹn thì có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến giao cho L 01 gói ma túy và nh n từ L số tiền 6.000.000 đ ng. L mang số ma túy này về cất giấu t i nhà thuê số 78 đ4 Phường 6 Qu n 8 r i sang ngày 22/10/2019 L bán gói ma túy này l i cho người nghiện (không rõ lai lịch) được 6.100.000 đ ng thu lợi 100.000 đ ng đã tiêu xài hết.

Lần thứ hai vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/10/2019 cùng phương thức trên L tiếp tục liên hệ mua từ Đ 6.000.000 đ ng ma túy lo i Methamphetamine và 9.000.000 đ ng ma túy lo i Ketamine. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày L đến điểm hẹn nh n ma túy và trả 15.000.000 đ ng cho người giao. Có ma túy L mang về nhà thuê số 78 đ4 Phường 6 Qu n 8 r i dùng bịch nylon và ống hút phân chia 02 gói Methamphetamine thành 04 gói nhỏ bán với giá từ 100.000 đ ng đến 4.100.000 đ ng mỗi gói; 02 gói Ketamine L dự định bán tất cả với giá 9.500.000 đ ng. Nếu bán hết số ma túy này L sẽ thu lợi được 1.100.000 đ ng.

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/10/2019 có một người nghiện (không rõ lai lịch) điện tho i cho L hỏi mua 01 gói Methamphetamine giá 200.000 đ ng và yêu cầu L giao ma túy t i khu vực ngã tư đường Nguyễn Văn L - Q50, xã B huyện C. Một người nghiện khác gọi điện tho i hỏi mua 01 gói Methamphetamine giá 4.100.000 đ ng và yêu cầu giao t i đường B Phường 10 Qu n 8. L lấy 02 gói Methamphetamine đã phân chia theo giá bán cất giấu vào áo ngực r i điều khiển xe gắn máy biển số 76C1-264.47 đi đến điểm hẹn bán ma túy cho người mua. Khi L đi đến trước số 327 T Phường 11 Qu n 8 thì bị Công an Qu n 8 yêu cầu kiểm tra và phát hiện ma túy nên bắt quả tang đối với L.

Gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 98,0346g và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0 3404g qua giám định không tìm thấy ma túy, L khai là của một người tên “B” (không rõ lai lịch) đưa cho L cất giữ giùm.

Xe gắn máy biển số 76C1-264.47 t m giữ của bị cáo Ngô Mỹ L bị cáo khai xe trên bị cáo mượn của một người phụ nữ tên “B” (không rõ lai lịch) để đi l i và không biết ngu n gốc của xe. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Duy Q (cư trú t i xã B huyện S tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên đăng ký. Vào tháng 5/2015, anh Q bán l i xe cho ông Nguyễn Trung T nhưng không làm thủ tục sang tên. Tháng 12/2015, ông T bán xe l i cho anh Trịnh Minh Nh và cũng không làm thủ tục sang tên. Ngày 08/9/2019, anh Nh gửi xe t i bãi xe bệnh viện P, Qu n 5 thì bị mất trộm sau đó anh Nh thỏa thu n với Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ L (quản lý bãi xe) nh n b i thường số tiền 15.000.000 đ ng. T i cơ quan điều tra anh Nh và người đ i diện của Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ L thống nhất thỏa thu n nếu anh Nh được Tòa án giải quyết cho nh n l i xe thì anh Nh sẽ hoàn l i cho Công ty số tiền 13.000.000 đ ng. Anh Nh và người đ i diện Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ L đề nghị Tòa án xem xét trả l i xe cho anh Nh.

T i bản Cáo tr ng số 93/CT-VKS ngày 18/5/2020 Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo Ngô Mỹ L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa

Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Mỹ L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử ph t bị cáo từ 08 năm 03 tháng đến 09 năm 06 tháng tù; ph t bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đ ng. Về xử lý v t chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các gói ma túy và các công cụ bị cáo sử dụng để cất giấu và phân chia ma túy, cùng gói tinh thể không màu và 01 viên nén không phải ma túy nhưng không có giá trị sử dụng; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu vàng bị cáo dùng để liên l c mua bán ma túy; đề nghị trả l i bị cáo 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu đỏ và số tiền 2.000.000 đ ng do không liên quan đến hành vi ph m tội. Đối với xe gắn máy biển số 76C1-264.47 đề nghị trả l i cho người quản lý hợp pháp là anh Trịnh Minh Nh.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án xác định vào lúc 13 giờ ngày 24/10/2019 t i trước số 327 T Phường 11 Qu n 8 Thành phố H Chí Minh bị cáo Ngô Mỹ L có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 10,6046 gam lo i Methamphetamine. Ngoài ra t i nơi của L t i nhà thuê số 78 đ4 Phường 6 Qu n 8, L còn cất giấu trái phép 5 2509 gam ma túy thể rắn lo i Methamphetamine và 9 7923 gam ma túy thể rắn lo i Ketamine. Bị cáo thừa nh n toàn bộ số ma túy bị Công an kiểm tra phát hiện nêu trên là của bị cáo dùng để bán. Số ma túy bị cáo cất giấu trái phép dùng để bán g m 02 chất là Methamphetamine và Ketamine, có tổng khối lượng là 25,6478 gam.

Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

...

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Ngô Mỹ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm p khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét tính nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o giáo dục bị cáo tr thành người có ích có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự và đang nuôi con nhỏ nên Hội đ ng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.

Về hình ph t bổ sung xét hành vi ph m tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính nên Hội đ ng xét xử áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về xử lý v t chứng quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong các gói niêm phong số 1997/19 Q8 (G1, G2, G3) xét đây là v t cấm tàng trữ lưu hành nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 hộp nhựa màu vàng trắng hiệu “Vsmart Bee” 01 ống hút v t nhọn một đầu và 02 cân tiểu ly là dụng cụ bị cáo dùng phân chia ma túy; tinh thể không màu có khối lượng 98,0346 gam và 01 viên nén màu xanh qua giám định không tìm thấy ma túy, xét không có giá trị sử dụng Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu vàng t m giữ của bị cáo xét bị cáo dùng để liên l c mua bán ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 điện tho i di động hiệu Iphone màu đỏ và số tiền 2.000.000 đ ng t m giữ của bị cáo xét không liên quan đến hành vi ph m tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự trả l i cho bị cáo.

- 01 xe gắn máy biển số 76C1-264.47 t m giữ của bị cáo t i thời điểm bắt quả tang. Qua xác minh, xe do anh Nguyễn Duy Q đứng tên đăng ký. Xét lời khai của anh Nguyễn Duy Q ông Nguyễn Trung T và anh Trịnh Minh Nh thể hiện anh Q đã bán xe cho ông T sau đó ông T bán xe l i cho anh Nh. Như v y anh Q và ông T không còn quyền lợi liên quan đến xe này. Do trong quá trình quản lý sử dụng, anh Nh bị mất trộm xe nên anh Nh yêu cầu được nh n l i xe. Hội đ ng xét xử nh n thấy việc anh Nh mua xe và bị mất trộm xe là có th t và có cơ s xác định anh Nh là người quản lý hợp pháp của xe nên yêu cầu nh n l i xe của anh Nh là có căn cứ chấp nh n. Hội đ ng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự trả l i xe gắn máy biển số 76C1-264.47 cho anh Nh.

T i cơ quan điều tra cũng như lời khai t i văn bản ý kiến ngày 27/7/2020 anh Nh và người đ i diện của Công ty TNHH Dịch vụ Bảo vệ L thừa nh n các bên có thỏa thu n nếu anh Nh được Tòa án giải quyết cho nh n l i xe thì anh Nh sẽ hoàn l i cho Công ty số tiền 13.000.000 đ ng. Xét thấy thỏa thu n của các bên không thuộc ph m vi và thẩm quyền giải quyết trong vụ án này nên Hội đ ng xét xử không xem xét. Trường hợp các bên có tranh chấp liên quan đến quyền s hữu quản lý xe gắn máy biển số 76C1-264.47 và số tiền b i thường thiệt h i thì sẽ được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên có yêu cầu.

Quá trình điều tra cũng như t i phiên tòa bị cáo khai nh n: Từ ngày 21/10/2019 đến ngày 24/10/2019 cùng phương thức mua và bán ma túy như đã khai L đã 02 lần mua ma túy từ người phụ nữ tên “Đ” để bán l i cho người nghiện thu lợi 100.000 đ ng đã tiêu xài hết. Tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo, không còn chứng cứ nào khác để truy cứu hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã thực hiện trước khi bị bắt quả tang cũng như không có căn cứ để xác định số tiền thu lợi bất chính như bị cáo khai.

Đối với người phụ nữ tên “Đ” người thanh niên giao ma túy cho bị cáo và các đối tượng tên “B” và “B” do không xác định được lai lịch quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố tụng nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Căn nhà t i số 78 đ4 Phường 6 Qu n 8 qua xác minh do bà Nguyễn Thị Mỹ Ph s hữu bà Ph dùng nhà làm nơi cho khách thuê trọ và có cho bị cáo L thuê. Việc bị cáo dùng phòng thuê làm nơi cất giấu trái phép ma túy để bán bà Ph không biết do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp lu t.

Quá trình điều tra xác định bị cáo L có 01 người con tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/5/2010 (Giấy khai sinh không có tên cha). Xét thấy t i thời điểm bị cáo mang thai và sinh con bị cáo chưa đủ 16 tuổi nhưng do không xác định được thông tin lai lịch cha của trẻ B nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hành vi “Giao cấu với trẻ em” do đó Hội đ ng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí hình sự: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm p khoản 2 khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Ngô Mỹ L 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 24/10/2019.

Ph t bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đ ng nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 (ba) gói niêm phong bên ngoài ghi số 1997/19 Q8 (G1 G2 G3) có chữ ký giám định viên Phan Hoàng T và cán bộ Nguyễn Huy L;

+ 01 (một) ống hút v t nhọn một đầu; 02 (hai) cân tiểu ly; 01 (một) hộp nhựa màu vàng trắng hiệu “Vsmart Bee”;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone màu vàng số Imei: 354390069201256 (không kiểm tra tình tr ng máy bên trong).

Trả l i bị cáo Ngô Mỹ L: 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone màu đỏ có số FCCID: BCG-E3087A (không kiểm tra tình tr ng máy bên trong) và số tiền 2.000.000 (hai triệu) đ ng.

Trả l i anh Trịnh Minh Nh 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 76C1-264.47 số khung: RLHJF4611EY655061 số máy: JF46E-2108968 (không kiểm tra tình tr ng máy bên trong).

(Theo Phiếu nh p kho v t chứng số 86/PNK ngày 27/4/2020 và Giấy nộp tiền vào tài khoản l p ngày 24/4/2020).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Ngô Mỹ L nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày tính từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ