vanban.org

Bản án 106/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/04/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/04/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 65/2019/HS-ST ngày 30/11/2019, được sửa chữa, bổ sung ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Tuyên bố: Bị cáo Hu nh Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh P - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Luật Giao thông đường bộ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2020/HS-PT
Ngày: 17 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Ông Lê Hồng Nước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Ngh a - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 62/2020/TLPT-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Hu nh Thanh P, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2019/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hu nh Thanh P, sinh ngày 19/01/2001 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hu nh Dũng E và bà Lê Thị Mỹ T; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt, tạm giam: Không; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hoàng là Luật sư; có mặt.

Ngoài ra trong vụ án người đại diện hợp pháp của bị hại, đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hu nh Thanh P chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 08/7/2019, bị cáo P điều khiển xe mô tô biển số 66C1-483.xx chạy từ hướng thành phố Sa Đéc về thành phố V nh Long, tỉnh V nh Long. Khi đi đến Km 03+840, Quốc lộ 80 thuộc khóm Phú Hưng, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì bị cáo P phát hiện phía trước khoảng 10m, ông Liêu Văn P1 đang điều khiển xe đạp chạy cùng chiều trong làn đường dành cho xe thô sơ. Bị cáo P vẫn cho xe chạy cùng làn đường với ông P1 với vận tốc khoảng 40km/giờ và định đến gần xe đạp thì mới lách sang trái để vượt qua. Do không chú ý quan sát và đảm bảo khoảng cách an toàn, bị cáo P tránh không kịp nên bánh trước va chạm với bánh sau xe đạp làm phương tiện và hai người ngã xuống đường. Ông P1 bị thương nặng được gia đình đưa đến Trung tâm Y tế huyện C cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh điều trị, đến ngày 09/7/2019 thì tử vong. Bị cáo P bị gãy xương sống mũi.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông và Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 08/7/2019 của Công an huyện C thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có chiều rộng mặt đường là 11m, có vạch kẻ phân chia phần đường và làn đường, được trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Vùng va chạm có kích thước 0,3m x 0,5m có tâm vào lề phải hướng đi xe mô tô biển số 66C1-483.xx là 0,5m.

Kết quả khám xe mô tô biển số 66C1-483.xx: Bên trái của phương tiện, đầu ốc kiểu tâm trục bánh xe trước (đường kính 5,5cm) bị trầy xước, kích thước 05cm x 03cm, cong về sau 01cm; Phía trên cánh bửng bị bể, kích thước 07cm x 01cm; Phía dưới cánh bửng có vết trượt màu đen, kích thước 16cm x 11cm; Mặt trước ghi đông (bằng cao su) bên trái bị trầy xước, kích thước 02cm x 01cm; Đầu cần đạp số bị trầy xước, kích thước 01cm x 01cm; Đầu gác chân người điều khiển bị trầy xước, kích thước 04cm x 02cm, cong về sau 03cm; Phía sau hông xe bên trái bị trầy xước, kích thước 09cm x 0,5cm. Hệ thống còi, đèn, phanh hoạt động bình thường.

Kết quả khám xe đạp:

Rỗ xe phía trước bị thụng mốp, kích thước 30cm x 11cm, lệch sang phải.

Bên phải của phương tiện: Đầu bàn đạp xe bị trầy xước, kích thước 05cm x 02cm; Phía sau yên xe người điều khiển bị trầy xước, kích thước 09cm x 04cm; Phía sau yên xe (bằng kim loại) người ngồi sau bị trầy xước, kích thước 06cm x 03cm; Đầu gác chân người ngồi sau bị trầy xước, kích thước 02cm x 0,5cm; Xích xe (sên xe) bị rơi ra khỏi nhông và d a xe; Vè chắn bùn bánh xe sau bị thụng mốp, kích thước 18cm x 05cm, lệch sang phải; Bánh xe sau bị cong biến dạng, căm xe bị cong biến dạng nhiều cây.

Bên trái của phương tiện: Đầu tay cầm bị trầy xước, kích thước 02cm x 01cm; Đầu tay phanh bị trầy xước, kích thước 01cm x 0,5cm; Đầu chân chống xe có dính chất màu trắng, kích thước 0,2cm x 0,2cm.

Phương tiện bị hư hỏng không hoạt động được nên không kiểm tra được an toàn kỹ thuật của phương tiện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 190/TTh-TTPY ngày 09/7/2019 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận: Nguyên nhân chết của ông Liêu Văn P1 là do va chạm vùng đầu vào vật cứng gây chấn thương sọ não, phù não, xuất huyết não.

Tại Kết luận giám định số 580 và 581/KL-KTHS cùng ngày 19/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận về đối tượng giám định: Mẫu máu chứa trong ống nghiệm, ghi thu của ông Liêu Văn P1 và Hu nh Thanh P tại thời điểm giám định ngày 14/7/2019 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-trắng, biển số 66C1- 483.8xx, số máy E3X9E520856, số khung 3220JY106257; giấy chứng nhận đăng ký xe do bà Lê Thị Mỹ T (mẹ ruột bị cáo P) đứng tên; 01 xe đạp không rõ nhãn hiệu, đã bị hư hỏng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hu nh Thị N là người đại diện hợp pháp của bị hại Liêu Văn P1 yêu cầu bị cáo P bồi thường chi phí điều trị, chi phí mai táng tổng cộng là 49.027.000 đồng. Bị cáo P và bà Lê Thị Mỹ T (mẹ ruột của bị cáo P) đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà N và đã bồi thường được 10.000.000 đồng, còn 39.027.000 đồng. Bà N có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bà Lê Thị Mỹ T.

Đối với xe mô tô biển số 66C1-483.xx là do bị cáo P mua từ nguồn tiền đi làm thuê, nhưng do chưa đủ tuổi nên nhờ mẹ ruột là bà Lê Thị Mỹ T đứng tên dùm và hàng ngày bị cáo P quản lý và sử dụng làm phương tiện đi làm. Do đó không xem xét xử lý bà T về hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo P và bà T đồng ý giao xe cho Chi cục Thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo thi hành án (bồi thường thiệt hại, án phí,...). Bà T đồng ý tiếp tục trả góp tiền mua xe còn nợ cho Công ty tài chính TNHH một thành viên HOME CREDIT Việt Nam đến hết tháng 02/2020. Ông Nguyễn Ngọc T1 là nhân viên quản lý kinh doanh cho Công ty tài chính TNHH một thành viên HOME CREDIT Việt Nam chịu trách nhiệm khi Công ty hợp tác với các cửa hàng bán xe tại khu vực huyện C, Lấp Vò, Lai Vung và thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp thống nhất không yêu cầu gì trong vụ án này. Trường hợp bà T không thực hiện việc trả nợ, Công ty sẽ khởi kiện bà T trong vụ án dân sự khác.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 65/2019/HS-ST ngày 30/11/2019, được sửa chữa, bổ sung ngày 03/4/2020, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Tuyên bố bị cáo Hu nh Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Hu nh Thanh P 02 năm tù (Hai năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, trách nhiệm do chậm thực hiện ngh a vụ trả tiền, về xử lý vật chứng, về án phí, quyền kháng cáo, quyền và ngh a vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/12/2019, bị cáo Hu nh Thanh P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 03/12/2019, người đại diện hợp pháp của bị hại Liêu Văn P1 (đã chết) là bà Hu nh Thị N có nhận số tiền 10.000.000 đồng do bị cáo P bồi thường thiệt hại và bà N đã giao nhận biên lai nhận tiền ngày 03/12/2019 giữa bà N và bị cáo P tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hu nh Thanh P không rút kháng cáo. Bị cáo P thừa nhận bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định và khoảng 04 giờ 30 phút ngày 08/7/2019, bị cáo P có điều khiển xe mô tô biển số 66C1-483.xx hướng thành phố Sa Đéc về thành phố V nh Long, tỉnh V nh Long. Khi đi đến khóm Phú Hưng, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo P phát hiện phía trước khoảng 10m, ông P1 đang điều khiển xe đạp chạy cùng chiều trong làn đường dành cho xe thô sơ, bị cáo P cho xe chạy cùng làn đường với ông P1 và định đến gần xe đạp thì mới lách sang trái để vượt qua, nhưng bị cáo P tránh không kịp nên đã va chạm vào xe đạp ông P1 làm cho hai xe và hai người ngã xuống đường, hậu quả ông P1 tử vong. Bị cáo P nhận tội, nhưng mức án 02 năm tù mà Tòa án nhân dân huyện C đã xử phạt bị cáo là quá nặng, nên bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của bị cáo Hu nh Thanh P nộp trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Hu nh Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo P kháng cáo xin giảm hình phạt, có giao số tiền 10.000.000 đồng cho bà Hu nh Thị N là người đại diện hợp pháp của bị hại Liêu Văn P1 (đã chết) để bồi thường thiệt hại, nhưng đây là ngh a vụ bị cáo P phải thực hiện nên không có căn cứ xem xét giảm hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Hu nh Thanh P trình bày lời bào chữa: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo P dưới khung hình phạt với mức án 02 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo P kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo P có cung cấp tình tiết mới đó là tình tiết bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo P thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hu nh Thanh P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo P phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số: 65/2019/HS-ST ngày 30/11/2019, được sửa chữa, bổ sung ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã xử phạt bị cáo Hu nh Thanh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo P đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm chết 01 người, không có giấy phép lái xe theo quy định. Bị cáo P là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ, việc tham gia giao thông phải tuân theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ, người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ làm chết người, không có giấy phép lái xe theo quy định thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Nhưng khi tham gia giao thông đường bộ ngày 08/7/2019, mặc dù không có giấy phép lái xe, bị cáo P vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66C1-483.xx và đã va chạm vào xe đạp do ông P1 đang chạy trên làn đường dành cho xe thô sơ, làm cho ông P1 ngã xuống đường, hậu quả ông P1 chết và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Do đó phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là tình tiết người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn (hộ cận nghèo), bị cáo là lao động chính trong gia đình là phù hợp, đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo P kháng cáo xin giảm hình phạt.

Về tình tiết gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, là lao động chính trong gia đình đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét; việc bị cáo P giao số tiền 10.000.000 đồng vào ngày 03/12/2019 cho người đại diện hợp pháp của bị hại Liêu Văn P1 (đã chết) để bồi thường thiệt hại là tình tiết mới ở cấp phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng xét mức án 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo P là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xét lời trình bày của người bào chữa cho bị cáo chưa phù hợp như đã nhận định trên, nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo P không được Tòa án chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Nhưng bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Hu nh Thanh P.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 65/2019/HS-ST ngày 30/11/2019, được sửa chữa, bổ sung ngày 03/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.

Căn cứ khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Tuyên bố: Bị cáo Hu nh Thanh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Hu nh Thanh P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Hu nh Thanh P được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ