- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đặng Thị Ngọc A - Anh Trần E"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc A.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2020/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Biên
Ông Đỗ Xuân Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số 217/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 132a/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Ngọc A, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 17 B, phường C, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Anh Trần E, sinh năm 1976; nơi cư trú: Australia; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 01/10/2019 và các văn bản khác, nguyên đơn là chị Đặng Thị Ngọc A trình bày:
Chị A và anh Trần E kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ngày 02/02/1999. Sau khi kết hôn anh Trần E quay trở lại Úc sinh sống và làm thủ tục để bảo lãnh cho chị A sang đoàn tụ. Tuy nhiên, không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận do không đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Mặc dù chị A kết hôn với anh Trần E do tự nguyện nhưng cũng xuất phát từ mong muốn được ra nước ngoài sinh sống nên tình cảm giữa hai bên chưa sâu sắc. Do vậy, sau khi không làm được thủ tục bảo lãnh, phải sống xa nhau nên tình cảm chị A và anh Trần E ngày càng phai nhạt. Từ năm 2000 cho đến nay, chị A và anh Trần E không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Gia đình anh Trần E không còn ai sinh sống tại Việt Nam nên 20 năm qua chị A chưa lần nào gặp lại anh Trần E, quan hệ vợ chồng chỉ còn tồn tại về mặt pháp lý. Hiện chị A cũng đã chung sống và có con với người đàn ông khác. Nay để ổn định cuộc sống, chị A có yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị A được ly hôn với anh Trần E.
Về quan hệ con chung và tài sản chung: Chị A xác nhận quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, lời trình bày tại bản tự khai và đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần E; không yêu cầu giải quyết về con chung và tài sản chung.
Tại phiên tòa, anh Trần E vắng mặt do việc ủy thác tư pháp không có kết quả.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Mâu thuẫn giữa chị A và anh Trần E đã sâu sắc, không còn khả năng đoàn tụ. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh Trần E; chị A không yêu cầu về con chung và tài sản chung nên không đặt vấn đề giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Anh Trần E vắng mặt tại phiên tòa. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của Úc để tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu xin ly hôn giữa chị A và anh Trần E; đồng thời đề nghị anh Trần E cho biết quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của chị A. Ngày 11/11/2019, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 2978/CH-BTP của Bộ Tư pháp Việt Nam về việc đã chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp Tòa án tối cao của bang Victoria, Úc để thực hiện việc ủy thác và gửi lại kết quả cho Bộ Tư pháp Việt Nam. Ngày 30/3/2020, Tòa án tiếp tục nhận được văn bản số 870/BTP-PLQT ngày 24/3/2020 của của Bộ Tư pháp Việt Nam cho biết, cơ quan có thẩm quyền của Úc không thực hiện được uỷ thác tư pháp do không có người nhận tại địa chỉ được yêu cầu; ngoài địa chỉ của anh Trần E ghi tại Giấy chứng nhận kết hôn, chị A không thể cung cấp được địa chỉ nào khác của anh Trần E. Sau khi nhận được văn bản này, ngày 30/3/2020, Tòa án đã có văn bản gửi Đại sứ quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Úc và Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị đăng tải thông báo của Tòa án cho anh Trần E biết về thời gian mở phiên họp và thời gian mở phiên tòa xét xử. Đến nay, đã hết thời hạn một tháng kể từ ngày đăng thông báo nhưng anh Trần E không có mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Trần E theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Ngọc A và anh Trần E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ngày 02/02/1999 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng ngay từ thời gian đầu đã không có hạnh phúc. Nguyên nhân chính là do tình cảm vợ chồng không sâu sắc; thủ tục bảo lãnh cho chị A sang định cư tại Úc để chung sống cùng với anh Trần E không thực hiện được; hai bên phải sống xa nhau ngay sau khi kết hôn mà không có cơ hội đoàn tụ. Kể từ khi kết hôn cho đến nay đã gần 20 năm chị A và anh Trần E luôn sống xa nhau, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay chị A yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị A phù hợp với tình trạng gia đình, mối quan hệ giữa hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị A xác nhận không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
Chị A phải chịu án phí ly hôn và chi phí tố tụng ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định pháp luật - Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Ngọc A được ly hôn với anh Trần E.
2. Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị Đặng Thị Ngọc A xác nhận không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
3. Về án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
- Chị Đặng Thị Ngọc A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp
̀ theo Biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí Toà án số 8413 ngày 01/10/2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Chị Đặng Thị Ngọc A phải chịu tiền chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 3.200.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 3.200.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 8396 ngày 01/10/2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ; 32 đô la Úc (tương đương số tiền 1.100.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 28/4/2020).
Chị Đặng Thị Ngọc A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, chị Đặng Thị Ngọc A có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Trong thờ i ha ̣n một tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, anh Trần E có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
| Nơi nhận: - Đương sự (để thi hành); - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Minh Phƣơng |