vanban.org

Bản án 106/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Võ Xuân T 09(Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” tháng tù nhưng cho bị cáo cho hưởng án treo, thử thách 18(Mười tám) tháng về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019).

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Xuân T cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Võ Xuân T 09(Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” tháng tù nhưng cho bị cáo cho hưởng án treo, thử thách 18(Mười tám) tháng về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊNTHÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:106/2019/HSST
Ngày 26-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Hữu Tường

- Bà Nguyễn Thị Diệu Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Hưng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Dương Thị Kim Tình - Chức vụ kiểm sát viên.

Vào ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số:101/2019/HSST, ngày 05 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2019/QĐ XXST-HS ngày 13/9/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Xuân T(Tên gọi khác: không), sinh ngày 10/8/1965 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 10B, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/10; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Võ Xuân H, sinh năm 1933(đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1937; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1967; Có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 25/3/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2019 đến ngày 26/8/2019. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Thiện T(Tên gọi khác: không), sinh ngày 03/12/1955 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 12, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 7/10; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Nguyễn Thiện C(đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N(đã chết); Anh chị em ruột có 11 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; Có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 25/3/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2019 đến ngày 26/8/2019. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Võ Hữu T(Tên gọi khác: không), sinh ngày 22/5/1960 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 10A, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không;Trình độ học vấn:7/10; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Võ Hữu B(đã chết);Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1939; Anh chị em ruột trong gia đình có 07 người bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; Có 4 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 25/3/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2019 đến ngày 26/8/2019.(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

4. Họ và tên: Nguyễn Văn B(Tên gọi khác: không), sinh ngày 10/10/1974 tại huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 12, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Công giáo;Trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Nguyễn Văn R, sinh năm 1948; Con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1950; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1985; Có 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 25/3/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2019 đến ngày 26/8/2019. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)

5. Họ và tên: Nguyễn Trọng T(Tên gọi khác:không), sinh ngày 10/02/1974 tại xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chổ ở hiện nay: xóm 3, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Đảng, đoàn thể: không; Con ông: Nguyễn Trọng L, sinh năm 1933; Con bà: Lê Thị T, sinh năm 1943; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1974; Có 03 con, con lớn sinh nhất năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/3/2019 đến ngày 25/3/2019, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2019 đến ngày 26/8/2019. (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 19/3/2019, Võ Xuân T gọi điện thoại cho Nguyễn Thiện T, sinh năm 1955, trú xóm 12, Nguyễn Trọng T, sinh năm 1974, trú xóm 3, Nguyễn Văn B, sinh năm 1974, trú xóm 12 và Võ Hữu T, sinh năm 1960, trú xóm 10, đều ở xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An đến nhà ở của Võ Xuân T tại xóm 10B, xã B để đánh bạc. Võ Xuân T đã chuẩn bị sẵn 02 bộ bài tú lơ khơ (01 bộ màu xanh và 01 bộ màu đỏ) 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh để tại phòng ngủ ở tầng 2 của nhà mình. Khoảng 15 phút sau các đối tượng đến nhà Võ Xuân T thống nhất đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh “Phỏm”, qui định đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng, các đối tượng ngồi đánh bạc theo chiều kim đồng hồ để đánh bạc: Nguyễn Thiện T - Võ Hữu T - Nguyễn Văn B - Nguyễn Trọng T. Quá trình đánh bạc thì Võ Xuân T ngồi xem mọi người đánh bạc, khi Nguyễn Trọng T đi vệ sinh thì Võ Xuân T cầm bài đánh hộ Nguyễn Trọng T 02 ván. Đi vệ sinh xong thì Nguyễn Trọng T đi vào không lấy bài từ Võ Xuân T để đánh bạc mà ngồi trên giường xem. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày thì Công an huyện Yên Thành phát hiện, ập vào bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc với nhau, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.500.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh; thu giữ trên người của Võ Xuân T số tiền 80.000 đồng, thu giữ trên người của Nguyễn Thiện T số tiền 1.040.000 đồng, thu giữ trên người của Nguyễn Hữu T số tiền 1.490.000 đồng, thu giữ của Nguyễn Văn B số tiền 1.560.000 đồng, thu giữ trên người Nguyễn Trọng T 4.545.000 đồng .

Quá trình điều tra đã xác định được hành vi đánh bạc cụ thể của các đối tượng như sau:

- Võ Xuân T là chủ nhà, khởi xướng việc đánh bạc; chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa; cho Nguyễn Thiện T vay 2.000.000 đồng để đánh bạc. Ngoài ra, Võ Xuân T còn đánh hộ cho Nguyễn Trọng T 02 ván bài khi T đi vệ sinh.

- Nguyễn Thiện T khi đi mang theo 3.300.000 đồng để đánh bạc, sau khi thua hết số tiền trên đã vay của Võ Xuân T 2.000.000 để tiếp tục đánh bạc. Tổng số tiền mà Nguyễn Thiện T dùng để đánh bạc là 5.300.000 đồng.

- Võ Hữu T khi đi mang theo 2.900.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc .

- Nguyễn Văn B khi đi mang theo 1.560.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc để đánh bạc .

- Nguyễn Trọng T khi đi mang theo 5.375.000 đồng và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc.

Tổng số tiền mà các đối tượng Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T sử dụng để đánh bạc với nhau là 10.760.000 đồng(Mười triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 10.760.000 đồng, 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân ( 01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ) và 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh đã được Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện yên Thành đã chuyển vào tại khoản của Chi cục thi hành án dân sự Yên Thành và kho bảo quản vật chứng chờ xử lý.

Số tiền thu giữ trong người Võ Xuân T và Nguyễn Trọng T các đối tượng không dùng để đánh bạc, cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành đã trả lại cho các đối tượng theo quy định.

Tại bản cáo trạng số:108/VKS-HS ngày 23/8/2019 của VKSND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Võ Xuân T, Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T về tội"Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 205, sữa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với các bị cáo cụ thể như sau:

1- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Võ Xuân T từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án tre, thử thách từ 12 tháng 14 tháng.

2- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v, x khoản 1, khoản Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Thiện T từ 06 tháng đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 12 tháng 14 tháng.

3- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Trọng T từ 06 tháng đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách tháng từ 12 tháng đến 14 tháng.

4- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Văn B từ 06 tháng đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng.

5.Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s , v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Võ Hữu T từ 06 tháng đến 07 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.

Do điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn, thu nhập thấp nên không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc10.760.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân(01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ) và chiếc chiếu nhựa màu xanh vì không có giá trị sử dụng.

-Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí toà án.

Các bị cáo không tranh luận, đối đáp với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ buộc tội:Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai, các bị cáo Võ Xuân T, Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên thấy rằng các bị cáo đánh bạc với nhau tại nhà ở của Võ Xuân T bằng hình thức đánh bài “Phỏm” số tiền thu tại chiếu bạc và trong người các đối tượng dùng để đánh bạc với nhau đã đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, phạm tội đánh bạc, nên cơ quan điều tra, điều tra viên đã tiến hành các hoạt động tố tụng qui định trong Bộ luật tố tụng hình sự, như ra các quyết định tố tụng, lấy lời khai; hỏi cung bị can; xác minh, điều tra để xử lý hình sự đối với các đối tượng. Sau khi tiến hành điều ra làm rỏ Cơ quan điều tra đã ban hành kết luận điều tra khẳng định Võ Xuân T, Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T phạm tội “Đánh bạc”. Tổng số tiền chứng minh mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 10.760.000 đồng, chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng qui định của pháp luật.

Đánh giá tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo thấy rằng:

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đánh bạc được thua bằng tiền của các bị cáo bị nhà nước nghiêm cấm, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất ổn định xã hội mà còn là hệ lụy của các tệ nạn, tội phạm khác. Chính vì vậy phải xử lý các bị cáo về hình sự, xử phạt các bị cáo mức án thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội để có tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.

Các bị cáo Võ Xuân T, Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T đồng phạm với nhau về tội Đánh bạc, tuy nhiên việc tham gia thực hiện hành vi đánh bạc của các bị cáo khác nhau, nên cần phân hóa để xử lý cho phù hợp.

- Đối với Võ Xuân T là chủ nhà, người chủ động gọi điện rủ các đối tượng đến nhà mình để đánh bạc, bị cáo là người chuẩn bị các công cụ, phương tiện để cho các con bạc đánh bạc tại nhà mình, đã tạo điều kiện về địa điểm, cho con bạc mượn tiền để đánh bạc khi con bạc bị thua tiền và giúp sức để cho các bị cáo đối tượng đánh bạc. Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc tích cực hơn các bị cáo khác, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, vì vậy cần xử lý nghiêm. Lẽ ra cần xử phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, tuy nhiên xét thấy rằng bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, lý lịch bị cáo trong sáng rõ ràng, bố của bị cáo là người có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Chủ tịch nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẽ vang hạng ba. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nên xét thấy chưa cần thiết phạt tù giam đối với bị cáo mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục đối với bị cáo cũng đủ nghiêm.

- Đối với Nguyễn Văn B và Nguyễn Trọng T, hai bị cáo này tham gia đánh bạc cũng rất tích cực, khi nghe bị cáo T rủ đến nhà để đánh bạc thì đồng ý ngay không một chút do dự, quá trình tham gia đánh bạc thể hiện hành vi đánh bạc rất tích cực thể hiện sự liều lĩnh xem thường pháp luật, cho thấy các bị cáo ham mê việc đánh bạc. Lẽ ra phải cũng phải xử phạt tù cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, nhưng xét thấy các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo rất thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, nhân thân lý lịch của các bị cáo trong sáng rỏ ràng. Do vậy chưa cần thiết phải xử phạt tù giam cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, mà xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Đối với bị cáo Nguyễn Thiện T tham gia thực hiện hành đánh bạc tích cực không thua kém gì đối với các bị cáo ở trên, bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất vụ án, xét hành vi của các bị cáo cũng cần phải xử lý nghiêm để giáo dục răn đe các bị cáo. Tuy nhiên xét so với các bị cáo ở trên thì thấy rằng bị cáo là người nhiều tuổi nhất, có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn các bị cáo ở trên, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, nhân thân của các bị cáo trong sáng rõ ràng. Quá trình công tác trong quân đội bị cáo đã được Bộ trưởng bộ quốc phòng tằng Bằng khen, được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương chiến sỹ vẽ vang hạng ba, bố của bị cáo là người có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự, xét thấy cần khoan hồng đối với bị cáo áp dụng điều 54 của BLHS để xử phạt dưới khung hình phạt đối với bị cáo, chỉ xử phạt bị cáo với mức án 04 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ nghiêm.

- Đối với Võ Hữu T tham gia thực hiện hành đánh bạc tích cực không thua kém gì đối với các bị cáo ở trên, bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ hai vụ án, xét hành vi của các bị cáo cũng cần phải xử lý với hình phạt tương xứng để giáo dục răn đe đối với bị cáo. Tuy nhiên xét so với các bị cáo ở trên thì thấy rằng bị cáo này có rất nhiều nhiều tình tiết giảm nhẹ như, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn về việc phạm tội của mình, nhân thân của các bị cáo trong sáng rõ ràng. Quá trình công tác trong quân đội bị cáo đã được tặng Bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được chủ tịch nước tặng Huân chương chiến sỹ vẽ vang hạng ba, Huân chương chiến công hạng ba. Bố mẹ của bị cáo là người có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của bộ luật hình sự, xét thấy cần khoan hồng để xử lý đối với bị cáo, cần áp dụng điều 35 và Điều 54 của BLHS để xử phạt tiền đối với bị cáo, chỉ xử phạt bị cáo 15.000.000 đ cũng đủ nghiêm.

Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là lao động nông nghiệp, thu nhập thấp, hành vi đánh bạc là cơ hội, nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Vật chứng: Xét số tiền 10.760.000 đồng thu giữ của các bị cáo là số tiền dùng vào việc đánh bạc cần phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Hai bộ bài tú lơ khơ 52 ( 01 bộ màu vàng xanh, 01 bộ màu đỏ) và 01 chiếc chiếu nhựa màu xanh là phương tiện dùng vào việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy như quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra Cơ quan điều tra có thu một số tiền trong người của một số đối tượng đánh bạc, quá trình điều tra làm rỏ số tiền thu giữ của các đối tượng này không liên quan đến việc đánh bạc, nên cơ quan điều tra trả lại đầy đủ cho các đối tượng, các đối tượng không có khiếu nại gì nên miễn xét.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; khoản 2 Điều 51 và khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Võ Xuân T 09(Chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” tháng tù nhưng cho bị cáo cho hưởng án treo, thử thách 18(Mười tám) tháng về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019).Giao bị cáo Võ Xuân T cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12(Mười hai) tháng về tội:“Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019). Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng T 06(sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12(Mười hai) tháng về tội:“Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019). Giao bị cáo Nguyễn Trọng T cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 và Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 201

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thiện T 04(Bốn ) tháng nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12(Mười hai) tháng về tội:“Đánh bạc”. Thời hạn thử thách đối với với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2019). Giao bị cáo Nguyễn Thiện T cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s, v, x khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

- Xö ph¹t: Bị cáo Võ Hữu T 15.000.000đ(Mười lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp một lần đối với số tiền trên sau khi bản án có hiệu lực thi hành.

6. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.760.000đ(Mười triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(Giấy nộp tiền ngày 05/9/2019).

- Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân(01 bộ màu vàng xanh, 01 bộ màu đỏ) và 01 chiếu nhựa mùa xanh. Vật chứng đã Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2019 và Phiếu nhập kho số: NK102 ngày 26/8/2019.

7. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Buộc: Võ Xuân T, Nguyễn Thiện T, Võ Hữu T, Nguyễn Văn B, Nguyễn Trọng T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt, được quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ