vanban.org

Bản án 106/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn với anh Nguyễn Thái Th.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thái Th1, sinh ngày 11/7/2010 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về yêu cầu phần cấp dưỡng nuôi con chung: không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H-Nguyễn Thái Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn với anh Nguyễn Thái Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:106/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 05- 11- 2018
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Lan

Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan, Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 05/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 302/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2018/QĐXX-ST ngày 24/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/10/2018, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: ấp X, xã XB, huyện XL, tỉnh ĐN.

- đơn: Anh Nguyễn Thái Th, sn: 1987.

Địa chỉ: ấp X, xã XB, huyện XL, tỉnh ĐN.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

-Theo đơn khởi kiện ngày 01/6/2018, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Trên cơ sở tự nguyện chị và anh Nguyễn Thái Th sống chung vào năm 2009 và đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã XB, huyện XL, tỉnh ĐN. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp và hay xảy ra cãi vã. Mặt khác, anh Nguyễn Thái Th thường xuyên nhậu say, đánh đập vợ con và không chăm sóc gia đình. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Phạm Thị H yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thái Th.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thái Th1, sinh ngày 11/7/2010. Khi ly hôn chị Phạm Thị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Thái Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không giải quyết.

Về nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Thái Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

- Đại diện VKSND huyện Xuân Lộc phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng, thực hiện thông báo thụ lý vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xác định đầy đủ và đúng quy định pháp luật.

Về quá trình thu thập chứng cứ gồm lấy lời khai của Thẩm phán đảm bảo theo trình tự tố tụng dân sự.

Về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử đã được thực hiện đúng tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thái Th không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên đề nghị HĐXX chấp nhận đơn yêu cầu, cho chị Phạm Thị H ly hôn .

Về con chung: cháu Nguyễn Thái Th1 có nguyện vọng muốn ở với mẹ, chị Phạm Thị H yêu cầu được nuôi con chung nên chấp nhận.

Chị Phạm Thị H không yêu cầu anh Nguyễn Thái Th cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung: không giải quyết, nợ chung: không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Thái Th, do đó xác định chị Huyền là nguyên đơn, anh Thanh là bị đơn.

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thái Th đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng anh Nguyễn Thái Th vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thái Th là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Phạm Thị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Phạm Thị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thái Th tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo luật định, nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Tại biên bản xác minh ngày 05/6/2018 tai ấp x, xã XB thể hiện giữa chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thái Th luôn xảy ra mâu thuẫn do anh Th hay nhậu say về đánh đập vợ con. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thái Th mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 quy định:

“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Về con chung: Chị Phạm Thị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Thái Th1, sinh ngày: 11/7/2010. Mặt khác, cháu Nguyễn Thái Th1 có nguyện vọng được sống với mẹ, nên giao con chung là cháu Nguyễn Thái Th1 cho chị Phạm Thị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015 quy định:

........................

“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết đ nh giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Chị Phạm Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không giải quyết.

Về tài sản chung: không giải quyết.

Về nợ chung: không giải quyết.

Về án phí: chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

-Áp dụng Điều 28, Ñieàu 35, Ñieàu 39, Ñieàu 227, Ñieàu 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H ly hôn với anh Nguyễn Thái Th.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thái Th1, sinh ngày 11/7/2010 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

- Về yêu cầu phần cấp dưỡng nuôi con chung: không giải quyết.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

- Về tài sản chung: Không giải quyết.

-Về nợ chung: Không giải quyết.

- Về án phí: Chị Phạm Thị H nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Phạm Thị H nộp (biên lai thu số 003019 ngày 01/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc) được khấu trừ thành tiền án phí. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ