- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2018/HNGĐ-ST Ngày 09-11- 2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Nương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vân.
Ông Thái Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành,
tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 488/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị Kim L, sinh năm 1991 (Vắng mặt);
Cư trú tại: Tổ A, ấp Phước L, xã Phước V, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
Cư trú tại: Tổ A, ấp Phước L, xã Phước V, huyện C T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/6/2018 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên
đơn chị Tô Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2009, đến
ngày 22/4/2014 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước V, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Thời gian mới kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cãi vả thường xuyên, anh T đánh đập chị, chị chịu đựng không được nên vợ chồng chị đã ly thân đến nay được 15 tháng, vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm đã thực sự không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Lê Gia H, sinh ngày
05/7/2011. Chị yêu cầu tiếp tục tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Lê Văn T đến để
giải quyết vụ án nhưng anh T đều vắng mặt không rõ lý do nên không có ý kiến của anh T.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh
Tây Ninh trình bày:
Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng
dân sự, không có vi phạm. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận
cho chị L và anh T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không cấp dưỡng nuôi vì chị L không yêu cầu. Ghi nhận tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn T là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh T, chị L.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T chung sống với nhau vào năm
2009, đến ngày 22/4/2014 đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phước V, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy quá trình sống chung, chị L và anh
T bất đồng quan điểm, thường cãi vả với nhau. Ngoài ra anh T còn đánh đập chị. Dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhưng không thể hòa giải mâu thuẫn dẫn đến việc chị L và anh T sống ly thân đến nay đã hơn 15 tháng. Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc nên không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị L.
Quá trình thu thập chứng cứ có xác minh ý kiến của chính quyền địa
phương và những người biết việc, xác định mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng. Chị L và anh T đã ly thân không còn sống chung với nhau nữa, anh T đã có vợ khác. Điều này vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những phần tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị là phù hợp Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Về con chung: Vợ chồng chị L, anh T có 01 con chung là Lê Gia H, sinh
ngày 05/7/2011. Chị L có yêu cầu nuôi con chung vì chị đang nuôi con và có điều kiện chăm sóc con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không
có ý kiến nên không đặt ra giải quyết.
Về nợ chung: Chị L trình bày không có, anh T không có ý kiến nên Hội
đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Do chị Tô Thị Kim L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Anh Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và
gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Kim L
đối với anh Lê Văn T. Chị Tô Thị Kim L được ly hôn với anh Lê Văn T.
2. Về con chung: Chị Tô Thị Kim L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Gia H, sinh ngày 05/7/2011. Ghi nhận chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai
được cản trở anh T thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra
giải quyết;
4. Về nợ chung: Không có, nên không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí:
Chị Tô Thị Kim L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm
nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0018597 ngày 22/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Chị Tô Thị Kim L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Đương sự; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Thị Kim Nƣơng |