- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.
- Căn cứ chính? Điều 121 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1052/2022/DS-ST Ngày: 06/4/2022 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Quốc Hưng
2. Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 399/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 727/2022/QĐXXST - DS ngày 17 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1246/2022/QĐST-DS ngày 11/3/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C.
Địa chỉ: Lầu 6, Số X Cách Mạng Tháng Tám, Phường Y, Quận Z, Tp. Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Minh T là đại diện ủy quyền.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 01/12/2021)
Bị đơn: Ông Lê Văn Th, sinh năm 1992
Địa chỉ: Số 78/16 đường Làng A, tổ C, KP4, phường D, thành phố Thủ Đức.
(Ông Th xin vắng mặt, Ông Th vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/3/2021, bản tự khai, biên bản làm việc và
biên bản hòa giải nguyên đơn Ngân hàng TMCP C có Ông Võ Minh Tlà đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 29/3/2021 Ông Lê Văn Th ký với Ngân hàng TMCP C Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cụ thể như sau:
- Hạn mức sử dụng: 20.000.0000 đồng
- Mục đích: Tiêu dùng cá nhân
- Loại thẻ: Visa Gold
- Số thẻ: 4791 3925 5046 9577
- Ngày cấp: 26/11/2019
- Hiệu lực thẻ: Tháng 11/2022 Sau khi được cấp thẻ tín dụng, Ông Th đã không Thanh toán đầy đủ cho C theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Ngày 10/6/2020 C đã chuyển khoản nợ của Ông Th sang khoản nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn. Ngày 26/8/2020, C ra thông báo chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của Ông Th. Tính đến ngày 06/4/2022 Ông Th còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc là 22.054.884 đồng
- Nợ lãi 15.747.735 đồng
Tổng cộng là: 37.802.619 đồng. Nay, Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Ông Th trả tổng cộng số tiền tính đến ngày 06/4/2022 là: 37.802.619 đồng đồng bao gồm số tiền nợ gốc là 22.054.884 đồng và tiền lãi là 15.747.735 đồng. Từ ngày xét xử sơ thẩm tiền lãi vẫn tiếp tục phát sinh dựa trên áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại theo thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án Ông Th vắng mặt nên không có lời khai. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C tranh chấp hợp đồng tín dụng với Ông Lê Văn Th, địa chỉ: Số 78/16 đường A, tổ C, KP4, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 12/11/2019 thể hiện địa chỉ liên hệ của Ông Th tại số 78/16 đường A, tổ C, KP4, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả trả lời xác minh ngày 23/11/2021 của Công an phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức cho biết“hiện nay Ông Lê Văn Th khÔng Thhực tế cư trú tại số 78/16 đường Làng Tăng Phú, tổ 13, KP4, phường Tăng Nhơn Phú A, thành phố Thủ Đức, nhà trong khu giải tỏa”. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/NQ – HĐTP/2017 ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: “địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”, do đó xác định địa chỉ số 78/16 đường Làng A, tổ C, KP4, phường D, thành phố Thủ Đức là địa chỉ cư trú của Ông Th. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP C do Ông Võ Minh Tlà đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và bị đơn Ông Lê Văn Th vắng mặt không có lý do nên vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại địa chỉ số 78/16 đường A, tổ C, KP4, phường D, thành phố Thủ Đức, Tp. Chí Minh, trụ sở Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh đối với Ông Lê Văn Th nhưng Ông Th vắng mặt không lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Ông Lê Văn Th.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C khởi kiện yêu cầu Ông Lê Văn Th trả tổng cộng số tiền tính đến ngày 06/4/2022 Ông Th còn nợ các khoản sau: nợ gốc là 22.054.884 đồng, nợ lãi 15.747.735 đồng, tổng cộng là: 37.802.619 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C: Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 12/11/2019). Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cụ thể như sau:
- Hạn mức sử dụng: 20.000.0000 đồng
- Mục đích: Tiêu dùng cá nhân
- Loại thẻ: Visa Gold
- Số thẻ: 4791 3925 5046 9577
- Ngày cấp: 26/11/2019
- Hiệu lực thẻ: Tháng 11/2022 Sau khi được cấp thẻ tín dụng, Ông Th đã khÔng Thhanh toán đầy đủ cho ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Ngày 10/6/2020 C đã chuyển khoản nợ của Ông Th sang khoản nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn. Ngày 26/8/2020 C ra thông báo chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán của Ông Th. Ông Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do Ông Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 10/6/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 06/4/2022 Ông Th còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc là 22.054.884 đồng
- Nợ lãi 15.747.735 đồng Tổng cộng là: 37.802.619 đồng và lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận. Về tiền lãi: Lãi suất trong hạn theo thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng là 43,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là đúng theo thỏa thuận tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Như vậy, từ ngày 22/9/2020 đến ngày 31/12/2021 thì lãi suất nợ quá hạn cụ thể là: 15.747.735 đồng. Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng. Theo thỏa thuận thì tính từ thời điểm Ông Th vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì toàn bộ bố nợ gốc chuyển thành nợ quá hạn, lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 15.747.735 đồng. Do đó, số tiền lãi mà Ngân hàng TMCP C yêu cầu là có cơ sở chấp nhận. Kể từ ngày 07/4/2022 nếu Ông Th khÔng Thrả, thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 22/11/2019. [5] Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm vì yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1, Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 121, Điều 122, Điều 342, 343, 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.
Buộc Ông Lê Văn Th có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP C tổng cộng số tiền tính đến ngày 06/4/2022 là 37.802.619 (ba mươi bảy triệu, tám trăm lẻ hai ngàn, sáu trăm mười chín) đồng, bao gồm số tiền nợ gốc là 22.054.884 (hai mươi hai triệu, khÔng Thrăm năm mươi tư ngàn, tám trăm tám mươi bốn) đồng và tiền lãi quá hạn là 15.747.735 (mười lăm triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn, bảy trăm ba mươi lăm) đồng.
Kể từ ngày 07/4/2022 nếu Ông Th khÔng Thrả, thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 22/11/2019.
Các bên Thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.890.131 (một triệu, tám trăm chín mươi ngàn, một trăm ba mươi mốt) đồng.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP C là 658.168 (sáu trăm năm mươi tám ngàn, một trăm sáu mươi tám) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2019/0047897 ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ngân hàng TMCP C và Ông Lê Văn Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. Thủ Đức; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ./. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Đặng Thị Hải Yến |