vanban.org

Bản án 1051/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị T.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Bùi Hồng H. Về con chung: có 01 con chung chung Bùi Khôi V, sinh ngày 02/8/2011. Giao trẻ Khôi V cho bà Lê Thị Ttrực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi có đơn yêu cầu của bà T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN HÓC MÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1051/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Hện Hóc Môn tham gia phiên tòa: không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1241/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 287/2023/QĐST- HNGĐ ngày 21/8/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T– sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Xã G, Huyện H, Tỉnh I.

Bị đơn: Ông Bùi Hồng H– sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Xã G, Huyện H, Tỉnh I.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/8/2022, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Bà và ông Bùi Hồng H tự nguyện tìm hiểu và tiến đến xây dựng gia đình vào năm 2009, có tổ chức lễ cưới, ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh, Hện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ngày 05/10/2009.

Sau khi cưới bà và ông H sống chung hạnh phúc, sau đó ông bà bắt đầu mâu thuẫn nguyên nhân là do ông H cờ bạc gây ra nợ nần nhiều lần. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà T yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Khôi V, sinh ngày 02/8/2011. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có

Nợ chung: không có

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải bà Lê Thị Tvà ông Bùi Hồng H thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông H không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Bà Lê Thị T có đơn xin vắng mặt, về phía bị đơn ông Bùi Hồng H, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông H nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn ông Bùi Hồng H cư trú tại Xã G, Huyện H,, Tỉnh I nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng ông Bùi Hồng H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 21/8/2023 cũng được tống đạt hợp lệ cho ông H nhưng ông H vắng mặt không lý do, nguyên đơn bà Lê Thị Tcó đơn xin vắng mặt. Tòa án đã triệu tập các đương sự hợp lệ lần thứ hai, do vậy Tòa án nhân dân Hện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật: Hội đồng xét xử nhận thấy bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Minh, Hện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ngày 05/10/2009 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ vợ chồng: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H có thời gian sống chung từ năm 2009, có đăng ký kết hôn và có 01 con chung. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh theo lời trình bày của bà T là do vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do ông H cờ bạc gây ra nợ nần nhiều lần. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định để tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông H không đến, điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ly hôn là cần thiết nên việc bà Lê Thị Tyêu cầu ly hôn với ông Bùi Hồng H là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lê Thị T và ông Bùi Hồng H có 01 con chung Bùi Khôi V, sinh ngày 02/8/2011. Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khôi V. Hội đồng xét xử xét thấy hiện trẻ Khôi V đang sống với bà T nên việc giao trẻ Khôi V cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Khôi V nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Khôi V cho bà T nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng: Ông H vắng mặt và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Lê Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị T.

Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Bùi Hồng H.

Về con chung: có 01 con chung chung Bùi Khôi V, sinh ngày 02/8/2011. Giao trẻ Khôi V cho bà Lê Thị Ttrực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông H cho đến khi có đơn yêu cầu của bà T.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Trong vụ án này nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Trong vụ án này nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí DSST: Bà Lê Thị T chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số AA/2022/0014916 ngày 04.10.2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự Hện Hóc Môn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ