vanban.org

Bản án 105

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.

p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo .............................. tháng cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Thị G tội đánh bạc - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
T A ÁN NH N D N
KHU VỰC 1 - HUẾ
THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2026/HS-ST
Ngày 29 - 4 - 2026

NHÂN DANH

N C C NG H A X H I CH NGH A VI T NAM

T A ÁN NH N D N KHU VỰC 1 - HUẾ

- hành h n i đồng t

th m gồm

Th m ph n - Ch a phi n a: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

C c H i h m nhân dân: ……………………………………………………....

- h

hi n t a Bà Nguyễn Thị Tuyết Linh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế.

- i iện iện i m át nh n n hu

- u tham gia hi n t a Ông Nguyễn Minh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ s Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026 đối v i bị cáo:

Họ và tên: ; Gi i tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1964; tại: ; Nơi cư trú: ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không đi học; Họ và tên cha: (đã chết), và tên mẹ: (đã chết); Anh chị em ruột: Có bảy người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Chồng: , sinh năm 1963; Con: Có 02 người, l n nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1993.

Quá trình nhân thân: Ngày 30/01/2024, bị , tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.000.000 đồng về hành vi "Tổ chức đánh bạc" (Quyết định số 69/CAH-XPHC ngày 30/01/2024). Đến nay bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.

Tiền án: Không.

Tiền sự: 01 (Quyết định số: 69/CAH-XPHC, ngày 30/01/2024).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/10/2025 cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

- Bà , sinh năm 1954; Bà , sinh năm 1962; Ông , sinh năm 1953; Ông , sinh năm 1981. Đều trú tại: .

- Ông , sinh năm 1995; trú tại: .

- Bà , sinh năm 1986; trú tại: .

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng trưa ngày 13/9/2025, tổ chức lễ cúng giỗ cho mẹ ruột tại nhà của mình . Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, cùng anh em trong gia đình và bạn bè gồm , , , , và rủ nhau đánh bạc hình thức chơi xóc đĩa thắng thua bằng tiền tại nhà của .

Cách thức đánh bạc như sau: Từ lá bài tú lơ khơ cắt thành 04 hột vị tròn để lên một cái đĩa rồi dùng một cái chén úp lại. Khi người làm cái xóc đĩa thì người chơi đặt cược tiền vào các mặt chẵn hoặc lẻ, mỗi ván đặt cược từ 10.000 đồng - 30.000 đồng. Người làm cái dỡ chén ra nếu bốn hột vị có ba mặt giống nhau (ba đen hoặc ba trắng) thì người cược lẻ thắng. Nếu hột vị có hai mặt trùng nhau (hai đen, hai trắng) hoặc bốn mặt trùng nhau (bốn đen, bốn trắng) thì người đặt chẵn thắng, tỉ lệ thắng cược là 1:1. Sau khi m chén thì người làm cái sẽ lấy tiền của bên thua trả cho bên thắng nếu không đủ thì bỏ tiền của mình ra trả, nếu thừa thì đây là tiền thắng bạc của người làm cái.

Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị , phát hiện, lập biên bản, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 2.620.000 đông (hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra đã xác định tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

+ sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc, thời điểm bị bắt thì đã thua hết.

+ sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc, thời điểm bị bắt đã thua hết.

+ , sử dụng 470.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc 780.000 đồng.

+ sử dụng 180.000 đồng để đánh bạc và đã thua hết.

+ sử dụng 850.000 đồng để đánh bạc và đã thua 300.000 đồng.

+ sử dụng 620.000 đồng để đánh bạc và thắng 100.000 đồng.

+ sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc và thua 150.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật và xử lý vật chứng:

+ Số tiền 2.620.000đ (hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

+ 01 cái chén bằng sứ màu trắng.

+ 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng có hoa văn.

+ 04 con vị cắt từ lá bài tú lơ khơ.

Các vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra .

Đối v i , , , , , có hành vi đánh bạc v i nhưng đều chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và các đối tượng này cũng đều chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại Bản Cáo trạng số 119/CT-VKSKV1 ngày 24/02/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc”; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 01 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ ……………………………………………………...

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng không có giá trị sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nư c số tiền 2.620.000đ.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo, giáo dục tại cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH C A T A ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến, khiếu nại gì, nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ 16 giờ 30 phút đến 17 giờ 30 phút ngày 13/09/2025, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc, có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa thắng, thua bằng tiền v i , , , , , v i tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.620.000 đồng (hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Tổ chức đánh bạc” nên lần này đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số 119/CT-VKSKV1 ngày 24/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chơi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương nhưng vì hám lợi, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng v i tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hư ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có địa chỉ cư trú rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, cần cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối v i bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối v i bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: + Số tiền 2.620.000đ (hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng) là tiền dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nư c.

Tịch thu tiêu hủy các vật không còn giá trị sử dụng gồm:

+ 01 cái chén bằng sứ màu trắng.

+ 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng có hoa văn.

+ 04 con vị cắt từ lá bài tú lơ khơ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì c c lẽ r n,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.

p dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo .............................. tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự nhận được bản án có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành án của Toà án. Giao bị cáo cho , giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối v i bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

2. Về xử lý vật chứng: p dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nư c số tiền 2.620.000đ (hai triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: + 01 cái chén bằng sứ màu trắng.

+ 01 cái đĩa bằng sứ màu trắng có hoa văn.

+ 04 con vị cắt từ lá bài tú lơ khơ.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm tại Quyết định chuyển vật chứng ngày 24/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Huế; Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 17/3/2026; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2026 giữa cơ quan CSĐT và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, ).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

H I ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ