- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Duy H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Duy H đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2026/HSST Ngày: 18/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Vĩnh
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Ông Bùi Văn Bình
Thư ký toà án - ghi biên bản phiên toà:
- Bà Nguyễn Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 tham gia phiên toà:
- Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2026/HSST-TL ngày: 11/02/2026 đối với bị cáo có lý lịch: Họ và tên: Nguyễn Duy H - Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm:1993. Tại: Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn Tế Xuyên 2, xã Phù Đổng, Hà Nội Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: lớp 8/12 Nghề nghiệp: Tự do. Họ và tên bố: Nguyễn Duy H1 – Sinh năm: 1955. Họ và tên mẹ: Phạm Thị T – sinh năm: 1958. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Theo danh chỉ bản số: 003, lập ngày: 01/01/2026 tại Trại tạm giam số 01(PC11A), Công an T1 bị cáo có nhân thân. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
Ngày 15/11/2024, Công an xã Đ đưa đi cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện F- S, Hà Nội (Đến ngày 15/5/2025 chấp hành xong trở về địa phương).
Bị tạm giữ ngày 23/12/2025 đến ngày 31/12/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam V- Công an thành phố T1. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 23/12/2025, Công an xã P, thành phố Hà Nội tiến hành rá soát các đối tượng đang trong diện quản lý sau cai nghiện trên địa bàn. Quá trình làm việc đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Duy H, kết quả phát hiện H dương tính với chất ma túy. Tại cơ quan điều tra H đã khai nhận: Khoảng 14h ngày 22/12/2025 H đi xe buýt từ nhà đến khu vực T, Bắc Ninh mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi H đã mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 300.000đ rồi đi về nhà sử dụng tại địa chỉ: Thôn T, xã P, Hà Nội. Cách thức: H lấy giấy bạc trong bao thuốc lá rồi cho số ma túy mua được lên mảnh giấy bạc, đốt nóng phía dưới và hít ma túy vào cơ thể. Ngày 23/12/2025 Công an Xã P mời lên trụ sở làm việc, xét nghiệm mẫu nước tiểu của H phát hiện H dương tính với ma túy. Tại KLGĐ số: 9357/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K Công an T1 xác định: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy H thu ngày 23/12/2025 có tìm thấy ma túy loại: Methamphetamine. Bản thân H đã được Công an xã Đ, huyện G đưa đi cai nghiện ma túy tự nguyện từ ngày: 15/11/2024 đến ngày 15/5/2025 tại Trung tâm cai nghiện số 02- Hà Nội sau đó về địa phương. H thuộc diện đối tượng quản lý sau cai tại nơi cư trú từ ngày 16/5/2025 đến ngày 16/5/2026 theo quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 16/5/2025 của UBND xã T, huyện G nay là xã P, TP Hà Nội) Hoàn nhận thức rõ việc sử dụng ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Đối tượng đã bán ma túy cho H ngày 22/12/2025 do không rõ nhân thân, lai lịch ên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Tại bản cáo trạng số: 157/CT-VKSLB ngày:09/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 Hà Nội truy tố đối với bị cáo Nguyễn Duy H về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 256A Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích đánh giá nội dung vụ án, nhân thân bị cáo và tính chất hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cụ thể trách nhiệm hình sự mức hình phạt đối với bị cáo H, áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 256A Bộ luật Hình sự về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, điểm s khoản 1điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt cụ thể với mức án từ: 24 tháng đến: 26 tháng tù, hạn tù kể từ ngày: 23/12/2025. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn quy định của pháp luật.
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Duy H đã khai nhận về hành vi của mình và xét thấy các lời khai này hoàn toàn phù hợp với Bản tự kiểm điểm của bị cáo Biên bản xét nghiệm tại Phòng Khám Đ ngày 23/12/2025. Xét thấy bị cáo H là đối tượng nghiện ma túy, lệ thuộc vào ma túy, đang trong thời gian theo dõi, H thuộc diện đối tượng quản lý sau cai tại nơi cư trú từ ngày 16/5/2025 đến ngày 16/5/2026 theo quyết định số 58/QĐ-UBND ngày 16/5/2025 của UBND xã T, huyện G nay là xã P, TP Hà Nội) Hoàn nhận thức rõ việc sử dụng ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bản kết luận giám định số: 9357/KL-KTHS ngày 31/12/2025 của Phòng K Công an T1 xác định: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy H thu ngày 23/12/2025 có tìm thấy ma túy loại: Methamphetamine.
Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã từng cam kết cai nghiện nhưng lại vi phạm, có lối sống buông thả, trong độ tuổi lao động, lệ thuộc vào chất gây nghiện, bị cáo có nhận thức nhưng không từ bỏ mặc dù biết ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và là mầm mống của các loại tội phạm khác.
Như vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Duy H đã có hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã truy tố tại Điểm b Khoản 1 Điều 256A Bộ Luật Hình sự.
Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Bị cáo Nguyễn Duy H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định Pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ : Điểm b Khoản 1 điều 256A Bộ luật Hình sự, Điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ: Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 quy định mức án phí, lệ phí.
1/ Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Duy H đã phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H: 24(hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2025. 2/ Án phí và Q kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có hạn kháng cáo hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát Khu vực 5; TANDTP Hà Nội - Phòng T.H.A DS khu vực 5; Lưu HS - Công an TP Hà Nội (PV06) - TAND thành phố Hà Nội - Lưu hồ sơ | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |