- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐB | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 105/2026/HSST Ngày 20/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐB
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Thời
2. Ông Lường Văn Hưởng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1- ĐB
- Đại diện VKSND khu vực 1- Điện Biên, tỉnh ĐB tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 20/5/2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1- Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2026/HSST ngày 29/4/2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2026/QĐXX-HS ngày 08/5/2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Đ: Tên gọi khác: Không có tên gọi khác;
Sinh năm: 1998; tại ĐB; Giới tính: Nam
Nơi ĐKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: B, xã ML, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Lò Văn T và bà Lò Thị B; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào đưa ra xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2026 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/02/2026, Lò Văn Đ đi bộ từ nhà ở bản K đến bản Pí, cùng thuộc xã M, tỉnh Điện Biên tìm mua ma tuý để sử dụng. Tại đường bản P, xã M, Đ gặp và hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết được 01 gói Heroine gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Sau đó, Đ cất giấu gói ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Trên đường về Đ lấy gói Heroine vừa mua được ra cấu một ít rồi dùng giấy bạc, bật lửa gas để sử dụng bằng hình thức hít, số Heroine còn lại Đ gói lại và cất vào trong túi quần như trước, còn bật lửa gas và mảnh giấy bạc sau khi sử dụng ma túy xong Đ đã vứt đi nhưng không nhớ chỗ nào. Hồi 07 giờ 10 phút ngày 03/02/2026, tại khu vực bản Khén, xã M, tỉnh ĐB khi Lò Văn Đ đang trên đường về nhà thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên phải của Lò Văn Đ đang mặc 0,19 gam Heroine có đặc điểm nêu trên.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 03/2/2026 đã xác định: Tổng khối lượng vật chứng thu giữ là 0,19 gam toàn bộ vật chứng được gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 160/KL-KTHS ngày 08/2/2026 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐB đã kết luận:
Vật chứng gửi gửi giám định thu giữ khi bắt quả tang Lò Văn Đ có khối lượng 0,19 gam là chất ma tuý: Loại Heroine; Hoàn lại đối tượng giám định: 0,13 gam.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKSKV1 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Sau khi bị bắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐB đã tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể của Lò Văn Đ cho kết quả dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra, xác minh Đ chưa từng thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện, bắt buộc hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý Đ về tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận ngày 02/02/2026 đã sử dụng Methamphetamine do một người đàn ông dân tộc T (không quen biết, không rõ thông tin) cho sử dụng cùng, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ cơ sở để điều tra làm rõ đối với người đàn ông dân tộc Thái này và ngày 03/02/2026 đã sử dụng trái phép chất ma tuý loại Heroine. Ngày 12/02/2026 Công an xã M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC đối với Lò Văn Đ, hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND khu vực 1- ĐB vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 07 giờ 10 phút ngày 03/02/2026, tại bản K, xã M, tỉnh Đ, Lò Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine trong túi quần bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
Hành vi tàng trữ 0,19 gam Heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Cáo trạng của VKSND khu vực 1 truy tố bị cáo Lò Văn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
. Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn Đ: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã Mường L, tỉnh Điện Đ, bị cáo học hết lớp 9/12 nghỉ học giúp gia đình làm nông nghiệp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Nghiện ma tuý từ năm 2021. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, Bị cáo chưa bị Tòa án nào đưa ra xét xử.
Quá trình điều tra xác định Lò Văn Đ chưa bị áp dụng các biện pháp cai nghiện ma tuý tự nguyện, bắt buộc hay điều trị các chất ma tuý bằng thuốc thay thế theo Luật phòng chống ma tuý. Do vậy Cơ CSĐT Công an tỉnh ĐB không đủ căn cứ Bị cáo về tội sử dụng trái phép chất ma tuý nên Lò Văn Đ bị cơ quan cảnh sát điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 12/2/2026 bằng hình thức Cảnh cáo.
Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS về hình phạt là phù hợp HĐXX chấp nhận.
. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét điều kiện kinh tế bị cáo khó khăn bản thân lại nghiện chất ma tuý không có điều kiện để thi hành. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông dân tộc Thái đã cho bị cáo sử dụng Methamphetamine cùng vào ngày 02/02/2026 do không xác định được họ tên địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. HĐXX không xem xét.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán trái phép chất ma túy cho bị can vào ngày 03/02/2026, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. HĐXX không xem xét.
. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.
. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS về xử lý vật chứng.
Tịch thu tiêu huỷ 0,13 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng.
.Về án phí: Bị cáo là dân tộc sinh sống tại xã khó khăn thuộc diện miễn án phí, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn Đoán được miễn án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 331, 333 BLTTHS
1.Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 03/02/2026)
3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu huỷ 0,13 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu hồng. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ĐB chuyển cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- ĐB vào ngày 28/4/2026 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án: bị cáo Lò Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/5/2026).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh ĐB; - VKSND khu vực 1- ĐB; - CQ CSĐT Công an tỉnh ĐB; - Đội HSNV Công an tỉnh ĐB; - CQ THAHS Công an tỉnh ĐB; - Trại tạm giam Công an tỉnh ĐB; - HS Thi hành án HS; - THADS tỉnh ĐB; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Bạc Thị Liên |