vanban.org

Bản án 105/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 05/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dình Thị X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dình Thị X 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01 - 4 - 2026. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Truy thu nộp ngân…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Dình Thị X phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dình Thị X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2026/HS-ST
Ngày: 05 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lường Văn Hoàng.

Bà Hoàng Thị Hồng Phóng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Ánh - Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2026/TLST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2026/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Dình Thị X (tên gọi khác: Không), sinh ngày 08/8/1988 tại xã N, tỉnh Lào Cai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã N, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số định danh cá nhân: 015188003524; con ông: Dình X đã chết (Tên gọi khác: Dình A V; Dình S) và bà Chang Thị S, sinh năm 1941; Chồng: Hàng A T đã chết; Có 01 con, sinh năm 2006; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 29/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 30/2017/HS-ST (đã được xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/4/2026, tạm giam ngày 04/4/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Dình Thị X: Bà Hà Thị L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Sùng A L1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã N, tỉnh Lào Cai. Hiện tại đang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở ma túy số 2, Công an tỉnh L. Địa chỉ: Thôn A, xã Y, tỉnh Lào Cai). Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Lý A H, sinh năm 1988; trú tại: Thôn H, xã P, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/4/2026, Sùng A L1 là đối tượng nghi vấn sử dụng chất ma túy trên địa bàn xã N nên tổ công tác Công an tỉnh L tiến hành xét nghiệm ma túy đối với L1. Kiểm tra mẫu nước tiểu bằng que thử nhanh cho kết quả Sùng A L1 dương tính với chất ma túy. Sùng A L1 khai nhận: Sáng ngày 29/3/2026, L1 đi bộ một mình đến nhà Dình Thị X để hỏi mua ma túy. Tại đây L1 gặp và mua được của X 01 gói ma túy được gói bằng nilon, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L1 đem về nhà cất giấu tại giường ngủ và đến tối cùng ngày đã sử dụng hết số ma túy nêu trên bằng hình thức hít tại nhà riêng.

Căn cứ lời khai của Sùng A L1, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập Dình Thị X để làm việc, tại Cơ quan điều tra X khai nhận đã bán ma túy cho L1 như nêu trên, đồng thời khai nhận nguồn gốc số ma túy trên là do X mua của Lý Thị D, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã N, tỉnh Lào Cai vào khoảng đầu tháng 3 năm 2026 tại nhà của D với số tiền 50.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dình Thị X và Sùng A L1 không phát hiện, thu giữ vật chứng, tài liệu gì.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Sùng A L1 vào ngày 22/3/2026, kết quả Sùng A L1 dương tính với chất ma túy loại MOR. Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSLCI-KV ngày 08/7/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai đã truy tố bị cáo Dình Thị X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị bổ sung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Bị cáo có Cha đẻ là người có công và được tặng thưởng Huy chương kháng chiếng Hạng Nhất” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dình Thị X từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo X; về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: truy thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo X số tiền 50.000 đồng; Miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật cho bị cáo. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định tại Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Dình Thị X nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, tuy nhiên vì hám lợi, nên đã thực hiện hành vi phạm tội; khi nói lời sau cùng bị cáo X xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo Dình Thị X cơ bản nhất trí với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo X và các vấn đề khác trong vụ án. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Dình Thị X 03 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Người làm chứng Sùng A L1 vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai, tài liệu của người này. Bị cáo X công nhận lời khai của người được công bố là đúng và không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập đến phiên tòa. Tòa án đã triệu tập hợp lệ người làm chứng đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Trong giai đoạn điều tra vụ án đã có lời khai của họ thể hiện trong hồ sơ. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và công bố lời khai của họ tại phiên tòa.

Tại phiên tòa bị cáo Dình Thị X thừa nhận sáng ngày 29/3/2026 bị cáo đã bán cho Sùng A L1 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 50.000 đồng tại nơi ở của mình. Lời khai của bị cáo X phù hợp với lời khai của người làm chứng Sùng A L1, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Dình Thị X là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý theo pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, bị cáo Dình Thị X đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng truy tố bị cáo Dình Thị X của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất mức độ gây nguy hại lớn cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của pháp luật trong lĩnh vực kiểm soát chất ma túy và phòng chống tội phạm ma túy. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, nhưng vì lợi nhuận đã cố ý thực hiện, do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đầy đủ, rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có cha đẻ là Dình A V được Chủ tịch N tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo Dình Thị X.

Về nhân thân: Ngày 29/9/2017 Dình Thị X bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ xử phạt 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 tại Bản án số 30/2017/HS-ST (đã được xóa án tích), tuy nhiên bị cáo tiếp tục phạm tội liên quan đến ma túy, thể hiện bị cáo là người có nhân thân chưa tốt.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo X, để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tránh xa ma túy, góp phần giáo dục người khác ý thức tôn trọng pháp luật và đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy. Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Dình Thị X đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Dình Thị X là 03 năm tù. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Dình Thị X từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo Dình Thị X cho phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh tài sản ngày 10/4/2026 và lời khai tại phiên toà của bị cáo thể hiện bị cáo không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo tại địa phương, bản thân và gia đình không có tài sản gì lớn có giá trị. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Dình Thị X.

Về biện pháp tư pháp và vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Ngày 29/3/2026 bị cáo X đã bán cho Sùng A L1 01 gói ma túy với giá 50.000 đồng, số tiền này bị cáo X đã chi tiêu sử dụng cá nhân hết, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định.

Đối với Sùng A L1, quá trình điều tra xác định Sùng A L1 không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 256a của Bộ luật hình sự. Công an xã N đã đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Sùng A L1 là phù hợp với quy định.

Theo lời khai của bị cáo Dình Thị X nguồn gốc số ma túy có để bán cho Sùng A L1 là do bị cáo mua của Lý Thị D, sinh năm 1988; trú tại: Thôn T, xã N, tỉnh Lào Cai, quá trình điều tra cho đối chất giữa Lý Thị D và Dình Thị X, Lý Thị D không thừa nhận việc bán ma tuý cho Dình Thị X, ngoài lời khai của Dình Thị X không còn tài liệu nào khác để chứng minh, vì vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Lý Thị D.

Về án phí: Bị cáo Dình Thị X là người bị kết án thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo X.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dình Thị X có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dình Thị X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dình Thị X 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01 - 4 - 2026.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng đối với bị cáo Dình Thị X.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dình Thị X.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dình Thị X có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 36 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ