vanban.org

Bản án 105/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng , TP Đà Nẵng Tuyên án 20/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 23/01/2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công T - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2026/HS-ST
Ngày: 20/5/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Vui

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sanh

Ông Nguyễn Xuân Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tường Tâm - Kiểm sát viên. Ngày 20 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70/2026/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2026/HSST-QĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Công T (tên gọi khác: B) sinh ngày 08 tháng 10 năm 1985 tại thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân số: 048085008489, cấp ngày 26/4/2022, nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Số K H, phường H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công V (1956) và mẹ là bà Lê Thị Q (chết), gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ tên là Phan Nguyễn Thục A (sinh năm: 2001) và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/4/2008 bị đưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 thành phố Đ theo Quyết định số 3498 của UBND thành phố Đ; ngày 11/9/2009 bị đưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 thành phố Đ theo Quyết định số 6979 của UBND thành phố Đ; ngày 15/8/2011 bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 132/QĐ-CAQ của Công an quận H, thành phố Đà Nẵng (cũ); ngày 21/02/2012 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong); ngày 29/2/2024 cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 28/02/2025 theo Hợp đồng số 14; Quyết định số 207 ngày 05/3/2025 của UBND phường P, thành phố Đà Nẵng (cũ) về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 03/3/2025 đến 03/3/2026.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam C, thành phố Đà Nẵng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào tối ngày 18/11/2025, tại khu vực đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Công T gặp một người đàn ông tên H (chưa rõ) và xin người này ma túy đá để sử dụng. Đến ngày 24/11/2025, tại nhà Thông số K H, phường H, thành phố Đà Nẵng, T lén lút đem ma túy bỏ vào bộ dụng cụ do T tự chế tạo gồm chai nước nỏ thủy tinh, ống hút và sử dụng bật lửa hơ nóng ma túy trong bộ dụng cụ rồi hút 04 hơi hết ma tuý vào người. Sau khi sử dụng xong ma tuý, T mang bộ dụng cụ đi vứt rác.

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 25/11/2025, Công an phường H, thành phố Đà Nẵng làm việc với Nguyễn Công T là đối tượng quản lý sau cai nghiện theo Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 05/3/2025 của Chủ tịch UBND phường P, nay là phường P, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra nước tiểu của T bằng que test nhanh đã phát hiện dương tính với chất ma tuý.

Đồ vật thu giữ: Nước tiểu của T để giám định chất ma túy và 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone Pro màu trắng số Imei 352243617110077.

Tại Kết luận giám định sô 1402/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an thành phô Đ kết luận: Tìm thấy chất Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Công T.

Xử lý vật chứng: Chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - THADS thành phố Đ các đồ vật, tài sản đã tạm giữ để bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án:

- 01 (một) túi niêm phong có mã số PS2 2123570 hoàn trả theo Kết luận giám định 1402/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone Pro màu trắng số Imei 352243617110077 gắn sim số 0934.883.481.

Quá trình điều tra, Nguyễn Công T khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, bản kết luận giám định, kết quả xét nghiệm nước tiểu, lời khai người người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 29/CT-VKSHS-KV ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ Luật hình sự (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).uyHu

Tại phiên toà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước trình bày luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Công T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị:

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong có mã số PS2 2123570 hoàn trả theo Kết luận giám định 1402/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công T 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone Pro màu trắng số Imei 352243617110077 gắn sim số 0934.883.481.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Nguyễn Công T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

- Bị cáo Nguyễn Công T nói lời sau cùng: Đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Công T tại phiên tòa đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Công T là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 05/3/2025 của Chủ tịch UBND phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng) từ ngày 03/3/2025 đến ngày 03/3/2026, nhưng vào ngày 24/11/2025 bị cáo Nguyễn Công T đã sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường H, phát hiện vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 25/11/2025.

Như vậy, bản Cáo trạng số 29/CT-VKSHS-KV ngày 26/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đà Nẵng đã truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội thì thấy: Bị cáo là người từng nghiện ma túy, hiện đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 05/3/2025 đến ngày 05/3/2026 theo Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 05/3/2025 của Chủ tịch UBND phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng (nay là phường H, thành phố Đà Nẵng). Trong thời gian chấp hành quyết định quản lý, lẽ ra bị cáo phải ý thức được trách nhiệm của mình, rèn luyện để từ bỏ ma túy, hòa nhập với cộng đồng và chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, bị cáo lại tiếp tục tái phạm, sử dụng trái phép chất ma túy nhiều lần, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, xem nhẹ sự quan tâm, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình.

Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy mà còn trực tiếp gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm khác có liên quan đến ma túy nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Ngày 29/4/2008 bị đưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 thành phố Đ theo Quyết định số 3498 của UBND thành phố Đ; ngày 11/9/2009 bị đưa vào Trung tâm giáo dục dạy nghề 05-06 thành phố Đ theo Quyết định số 6979 của UBND thành phố Đ; ngày 15/8/2011 bị đưa vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 132/QĐ-CAQ của Công an quận H, thành phố Đà Nẵng (cũ); ngày 21/02/2012 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (cũ) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong); ngày 29/2/2024 cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 28/02/2025 theo Hợp đồng số 14; Quyết định số 207 ngày 05/3/2025 của UBND phường P, thành phố Đà Nẵng (cũ) về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 03/3/2025 đến 03/3/2026.

Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt:

- Tình tiết tăng nặng: Không

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã từng bị kết án nhưng được xóa án tích nên thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp đụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng sau:

- 01 (một) túi niêm phong có mã số PS2 2123570 hoàn trả theo Kết luận giám định 1402/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone Pro màu trắng số Imei 352243617110077 gắn sim số 0934.883.481 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Công T.

Về vấn đề khác:

- Ông Nguyễn Công V là cha T và chủ nhà số K H, phường H, thành phố Đà Nẵng, nhưng ông V không biết T phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

- Đối với người thanh niên tên H đã cho ma túy đá cho bị cáo T vào ngày 18/11/2025 tại khu vực đường N, phường H, thành phố Đà Nẵng nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra làm rõ xử lý sau là có cơ sở.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 23/01/2026.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như sau:

* Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong có mã số PS2 2123570 hoàn trả theo Kết luận giám định 1402/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an thành phố Đ.

* Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Apple Iphone Pro màu trắng số Imei 352243617110077 gắn sim số 0934.883.481.

(Vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2026).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

5. Về thời hạn kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ