- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 232 Bộ…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 305 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:105/2026/HS-PT Ngày: 17-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Nguyễn Tấn Long
Các Thẩm phán:
ông Phùng Anh Dũng
bà Trần Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đoàn Minh Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại điểm cầu tại Trụ sở Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến kết nối với điểm cầu tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2026/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Y Tinh Niê K về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”; do có kháng cáo của bị cáo Y Tinh N Kdăm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2025/HS-ST ngày 15-12-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Y Tinh Niê K, sinh ngày 16/04/1989, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn D, xã C, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Êđê; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Y Lơng K1 (sinh năm 1965) và con bà H Ber Niê K2 (sinh năm 1964); bị cáo có vợ là H Âm Kbuôr và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/07/2025 đến ngày 28/07/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2024, do muốn học cách chế tạo thuốc nổ để đi đánh bắt cá ở các khu vực sông, suối gần nhà nên bị can Y Tinh Niê K đã nghiên cứu về vật liệu nổ đã truy cập mạng xã hội Youtube xem video học. Sau khi biết cách để chế tạo thuốc nổ trên mạng thì Y T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook để đặt mua : 02kg Kali Clorat (KCLO3); 01kg Lưu huỳnh (S); 01kg Natri benzoat (NaC6H5CO2) với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua xong, Y T đã tiến hành pha trộn vật liệu nổ với tỉ lệ: 06 Kali Clorat:04 Natri benzoat:01 Lưu huỳnh và thành phần bột than với Y T tự chế từ than củi không có tỉ lệ cụ thể, chỉ mang tính ước lượng. Kết quả đã chế tạo thành 2,8kg chất bột nghi là vật liệu nổ và cất giấu tại rẫy của bố ruột ở cùng xã C, tỉnh Đắk Lắk, số tiền chất còn dư Y T bỏ vào 03 hộp nhựa cất giấu tại nhà riêng của mình để chế tạo thành khối nổ đi đánh cá. Y Tinh truy cập mạng xã hội và liên hệ đặt mua 11 cái kíp nổ bằng kim loại với tổng số tiền là 710.000 đồng, rồi cất giấu cùng với các chất bột nghi là vật liệu nổ trên ngoài nương rẫy. Đến ngày 18/07/2025, khi đang đi bộ đến đoạn đường liên thôn T, xã C, tỉnh Đắk Lắk thì Y T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số vật liệu nổ nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 24/07/2025 của Phòng K3 công an tỉnh G, kết luận:
“1. Hỗn hợp chất màu xám có thành phần Kali Clorat (KCLO3), Lưu H (S) và N1 (AL) có khối lượng 2,0 kg;
2. 11 (mười một) vật hình trụ bằng kim loại màu xám trắng, đường kính 8,0mm, dài 5,0cm, một đầu bịt kín bằng chất bột màu trắng, một đầu bịt kín bằng nhựa (cao su) có nối 02 dây dẫn màu cam dài 30cm, bên trong có lõi kim loại màu nâu đỏ (sợi dây điện) là vật liệu nổ, loại kíp nổ điện, còn sử dụng được và tổng khối lượng 57,67 gam;
3. Toàn bộ chất cục, bột màu trắng dựng trong 02 (hai) hộp nhựa kí hiệu “A3” và “A5” chuyến đến giám định đều là Kali Clorat (KCLO3), tổng khối lượng 0,9 kg;
4. Chất cục, bột màu vàng dựng trong 01 (một) hộp nhựa kí hiệu “A4” chuyển đến giám định là Lưu H (S); Các chất bột Nhôm (AL), Kali Clorat (KCLO3) và Lưu H (S) thường được dùng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ.”
* Đồ vật, tài liệu thu giữ được:
- 11 vật hình trụ bằng kim loại màu xám trắng, đường kính 8,0mm, dài 5,0cm, một đầu bịt kín bằng chất bột màu trắng, một đầu bịt kín bằng nhựa (cao su) có nối 02 dây dẫn màu cam dài 30cm, bên trong có lõi kim loại màu nâu đỏ (sợi dây điện) là vật liệu nổ, loại kíp nổ điện, còn sử dụng được và tổng khối lượng 57,67 gam (đã được niêm phong theo quy định).
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu bạc (ốp lưng màu đen); IMEI 1: 352808090220013; IMEI 2; 352809090220011; bên trong gắn hai sim điện thoại không kiểm tra số sim (đã được niêm phong theo quy định).
- 01 cân điện tử, loại cân có móc treo túi, khối lượng ký hiệu 0~10kg; d=5g; 10~50kg: d=10g (đã được niêm phong theo quy định).
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKS-P1 ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Y Tinh Niê Kdăm về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự;
[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2025/HS-ST ngày 15-12-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Y Tinh Niê K phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Y Tinh N Kdăm 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/07/2025 đến ngày 28/07/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[3] Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo Y Tinh Niê K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Y Tinh N Kdăm giữ nguyên nội dung như đơn kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt, trình bày lý do là bị cáo chưa sử dụng vật liệu nổ, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với kháng cáo về hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo như quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Đắk Lắk trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo Y Tinh N Kdăm tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng tháng 02/2024, bị cáo Y Tinh Niê K đã nghiên cứu cách để chế tạo thuốc nổ trên mạng để đi đánh bắt cá, sau đó Y T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook để đặt mua: 02 kg Kali Clorat (KCLO3); 01 kg Lưu huỳnh (S); 01 kg Natri benzoat (NaC6H5CO2) với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, Y T đã tiến hành pha trộn và chế tạo thành 2,8 kg chất bột là vật liệu nổ và dùng 710.000 đồng để mua trên mạng 11 cái kíp nổ bằng kim loại, sau đó Y T cất giấu tất cả tại rẫy của bố ruột ở cùng xã C, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 18/07/2025 thì Y T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số vật liệu nổ nêu trên. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định bị cáo Y Tinh Niê K phạm tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xem xét về hình phạt
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn và có bác ruột là liệt sĩ, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp. Tại phiên toà phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở địa bàn khó khăn nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y Tinh Niê K và giữ nguyên hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 164/2025/HS-ST ngày 15-12-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Y Tinh Niê K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/07/2025 đến ngày 28/07/2025.
3. Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Y Tinh Niê K được miễn án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao - Vụ GĐKT I; - Viện công tố và KSXX PT tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT, Phòng tham mưu-CA tỉnh Đắk Lắk; - Cục THAHS và HTTP CA tỉnh Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu: HSVA; LT; phòng HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Long |