vanban.org

Bản án 105/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn P.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P được ly hôn với chị Nguyễn Hồng C. Về con chung: Anh Nguyễn Văn P trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, chị Nguyễn Hồng C không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn P - Nguyễn Hồng C - Ly hôn tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:105/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 28-4-2026
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Dưỡng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Thanh Xuân;

Bà Dương Thị Quyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liếng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc – Kiểm sát viên

Trong các ngày 10 và ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở 02 Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 405/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Nguyễn Hồng C, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh P có đơn xin vắng mặt, chị C vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Văn P: Vào năm 2019, anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng C yêu thương nhau, có tổ chức đám cưới về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang) vào ngày 01/10/2019. Trong quan hệ hôn nhân anh P và chị C không có con chung. Anh P và chị C sống với nhau thời gian đầu có hạnh phúc nhưng dần về sau thì cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống nên không còn hạnh phúc và đã ly thân không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, có sống chung lại cũng không hạnh phúc nên anh Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Hồng C vì tình cảm vợ chồng không còn.

- Về con chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo lời trình bày của bị đơn Nguyễn Hồng C: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, cũng không có gửi văn bản ý kiến cho Tòa án.

* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 91, 92, 179, 208 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 9, 19, 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn P với bà Nguyễn Hồng C. Về con chung: Không có, nên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Không có, nên không đề cập giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết. Không yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Văn P vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt, bị đơn Nguyễn Hồng C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng C sống chung có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang) vào ngày 01/10/2019 nên hôn nhân của anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng C là hợp pháp.

Anh Nguyễn Văn P trình bày trong thời gian sống chung thì anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng C phát sinh nhiều mâu thuẫn và cự cãi nhau do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng anh chị đã ly thân và không hàn gắn lại được. Nay anh Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Hồng C. Đồng thời sau khi thụ lý vụ án thì Tòa án đã 02 lần thông báo hòa giải đoàn tụ nhưng chị Nguyễn Hồng C không đến Tòa án để hòa giải, điều này thể hiện ý chí của chị Nguyễn Hồng C không muốn Tòa án hòa giải cho vợ chồng anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng Chi đoàn T về sống chung lại, trong khi anh Nguyễn Văn P thì cương quyết ly hôn với chị Nguyễn Hồng C.

Từ những phân tích trên, xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyễn Văn P và chị Nguyễn Hồng C mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn P là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn P.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn P trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, chị Nguyễn Hồng C thì không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu, chị Nguyễn Hồng C thì không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.”, vậy anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007162 ngày 06-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Nguyễn Văn P đã nộp đủ án phí. chị Nguyễn Hồng C không phải chịu án phí.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 5, 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Văn P.

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P được ly hôn với chị Nguyễn Hồng C.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn P trình bày không có và không yêu cầu giải quyết, chị Nguyễn Hồng C không có ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị Nguyễn Hồng C không có ý kiến và yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

4. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007162 ngày 06-11-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh Nguyễn Văn P đã nộp đủ án phí.

Chị Nguyễn Hồng C không phải chịu án phí.

5. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ