vanban.org

Bản án 105/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 25/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 28 tháng 8 năm 2024. Về xử lý vật chứng, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST
Ngày 25-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Minh Thi;

Bà Lương Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Văn P; sinh ngày 21 tháng 5 năm 1991 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn T1, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T3 và bà Liễu Thị Q; có vợ là Bế Thị H1 (đã ly hôn năm 2022) và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 44/2019/HS-ST ngày 28-5-2019 của Toà án nhân dân huyện C1, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Vận chuyển hàng cấm, ngày 24-3-2020 chấp hành xong, đã được xoá án tích; chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ từ ngày 28-8-2024 và tạm giam từ ngày 31-8-2024 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lành Văn N; sinh năm 1968; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1975; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn P nghiện chất ma túy từ năm 2022 đến nay. Khoảng 10 giờ ngày 28-8-2024, Hoàng Văn P một mình đón xe khách đi từ nhà đến thị trấn Đ, huyện C2, tỉnh Lạng Sơn với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến khu vực ngã ba đổi tiền thuộc thị trấn Đ, Hoàng Văn P xuống xe đi bộ thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô đến hỏi “có nhu cầu gì không?” qua trao đổi, Hoàng Văn P đã mua với người đàn ông này 2.000.000 (hai triệu) đồng được 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa các cục chất bột màu trắng là chất ma túy Heroine. Hoàng Văn P nhận lấy số ma túy cất vào túi quần bên phải đang mặc trên người rồi đón xe khách về nhà. Khi về đến gần nhà, Hoàng Văn P xuống xe đi bộ thì gặp Lành Văn N sinh năm 1968, trú tại thôn H1, xã T2, huyện V, tỉnh Lang Sơn. Lành Văn N hỏi mua 100.000 (một trăm nghìn) đồng tiền ma tuý; Hoàng Văn P đồng ý, bảo Lành Văn N đợi ở ngoài rồi một mình đi vào phòng khách trong nhà lấy kéo cắt một mảnh giấy ô ly trong quyển vở có nhãn hiệu “T5”, lấy gói ma tuý vừa mua được ra dùng kéo nghiền nhỏ một phần ma tuý, gói vào mảnh giấy vừa cắt và mang ra đường đưa cho Lành Văn N. Lành Văn N nhận lấy gói ma tuý mang đi đâu Hoàng Văn P không biết. Số ma tuý còn lại Hoàng Văn P vẫn để trong túi nilon màu trắng, để trong gói nilon màu đen và cất trong túi quần bên phải đang mặc trên người. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Văn P đang đi bộ trên đường quốc lộ *, đoạn trước cổng trường Trung học cơ sở xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn với mục đích tìm người mua để bán ma tuý thì bị Tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và lập biên bản theo quy định.

Tổ công tác đã thu giữ của Hoàng Văn P: 01 (một) gói nilon màu đen, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng nghi là chất ma túy, được niêm phong trong một phong bì thư ghi chữ “QT Hoàng Văn P”; số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

Cùng ngày 28-8-2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn P và thu giữ: 01 (một) quyển vở ô ly nhãn hiệu “T5” bìa màu trắng, xanh, vàng, kích thước 17 x 24cm, trang giấy cuối cùng của quyển vở bị cắt dở (hình ô vuông), vở đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu xanh, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng, đã qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 928/KL-KTHS, ngày 30-8-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Các cục, chất bột màu trắng có trong 01 (một) túi nilon màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,986 gam (đã trừ bì)”. (Tại Công văn số 87/PC09 ngày 17-3-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn khẳng định: “… chất ma túy được gọi là Heroine hoặc Heroin đều là tên gọi của cùng một chất ma túy có tên khoa học là Diacetylmorphine”).

Tại Kết luận giám định số 1134/KL-KTHS, ngày 02-11-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Tờ tiền Việt Nam niêm phong trong phong bì gửi giám định là tiền thật”.

Tại Cơ quan điều tra, ông Lành Văn N trình bày: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28-8-2024, tại thôn T1, xã T2, ông được mua ma túy với Hoàng Văn P; ông đưa cho Hoàng Văn P 100.000 (một trăm nghìn) đồng; Hoàng Văn P vào nhà khoảng 10 phút sau ra đưa cho ông 01 (một) gói ma túy gói bằng giấy kẻ ô ly, ông nhận lấy gói ma túy đi ra khu vực vắng người sử dụng hết. Chị Nguyễn Thị T4 khai được chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 103/CT-VKSVL ngày 26-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố; bị cáo thừa nhận việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng của bị cáo bị tạm giữ do bán ma túy cho Lành Văn N mà có; 01 (một) quyển vở ô ly nhãn hiệu “T5”; 01 (một) chiếc kéo cán nhựa màu xanh lưỡi bằng kim loại của bị cáo dùng để chia nhỏ ma túy, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, toàn bộ các vỏ bao gói; 01 (một) quyển vở ô ly nhãn hiệu “T5” màu trắng, xanh, vàng kích thước 17 x 24cm trang cuối cùng của quyển vở bị cắt dở (hình ô vuông); 01 (một) chiếc kéo cán nhựa màu xanh lưỡi bằng kim loại; tịch thu số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng của bị cáo do bán ma túy mà có; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ; căn cứ theo khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 28-8-2024, Hoàng Văn P đã sử dụng 2.000.000 (hai triệu) đồng mua được 01 (một) gói ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời; Hoàng Văn P đã bán cho Lành Văn N 100.000 (một trăm nghìn) đồng tiền ma túy; còn lại bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ 0,986 gam ma túy Heroine. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để kiếm lời và có ma túy cho bản thân sử dụng, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án và đã được xóa án tích. Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022 đến nay, điều này thể hiện bị cáo thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 07-11-2024 của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư và toàn bộ các vỏ bao gói; 01 (một) quyển vở ô ly nhãn hiệu “T5” bìa màu trắng, xanh, vàng kích thước 17 x 24cm trang giấy cuối cùng của quyển vở bị cắt dở (hình ô vuông); 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu xanh, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, vật không sử dụng được và vật dùng vào việc phạm tội; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng do bị cáo bán ma túy mà có.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về điều luật áp dụng, tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này. Đối với ông Lành Văn N, là người nghiện ma túy đã mua ma túy với bị cáo, cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này; cơ quan điều tra đã chuyển thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để quản lý theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b, c khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 28 tháng 8 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng,

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư niêm phong ghi chữ “QT Hoàng Văn P”; bên trong có: 01 (một) túi nilon cũ đựng 0,940 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói cũ.

- 01 (một) quyển vở ô ly nhãn hiệu “T5” bìa màu trắng, xanh, vàng kích thước 17 x 24cm trang giấy cuối cùng của quyển vở bị cắt dở (hình ô vuông); 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu xanh, lưỡi kéo bằng kim loại màu trắng.

3.2. Tịch thu để nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng, tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn P.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29-11-2024).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ