- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn anh Triệu Đức Ch, bị đơn chị La Thị H"
- Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Triệu Đức Ch được ly hôn với chị La Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH Y | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trương Xuân Vũ;
2- Ông Hoàng Văn Khiếu.
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Cẩm Tú- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 71/2024/QĐST -HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Triệu Đức Ch 41 tuổi
Địa chỉ: Thôn 2 T- xã PL- huyện L- tỉnh Y, có mặt.
Bị đơn: Chị La Thị H 37 tuổi
Địa chỉ: Thôn 2 T- xã PL- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 30-5-2024 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Triệu Đức Ch trình bày: Anh và chị La Thị H kết hôn tháng 3 năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã PL- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị H tự ý bỏ nhà đi đâu, làm gì không nói cho anh biết, cứ đi một thời gian xong lại về, về được 1 tháng đến 2 tháng xong lại đi, thỉnh thoảng mới gọi điện về nói chuyện với con nhưng không hề gửi tiền về nuôi con. Anh không đánh đập, không đuổi mà chị H tự ý đem quần áo bỏ đi. Gia đình khuyên nhủ, mẹ anh xin cô ấy ở lại nhưng cô H không nghe. Hai người sống ly thân từ tháng 5 năm 2023. Xác định vợ chồng không còn tình cảm anh đề nghị giải quyết cho ly hôn. Anh và chị H có ba con chung là Triệu Thanh H1 sinh ngày 01-6-2006; Triệu Hữu H2 sinh ngày 19-11-2012 và Triệu Ngọc L sinh ngày 20-5-2018. Cháu H1 đã lập gia đình, hai cháu nhỏ hiện đang ở với bố. Ly hôn anh sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng các con, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung anh không yêu cầu giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần và liên lạc trực tiếp qua điện thoại nhưng chị La Thị H vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; bị đơn được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, vắng mặt tại phiên toà là chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho anh Triệu Đức Ch được ly hôn với chị La Thị H; giao con chung cho anh Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Triệu Đức Ch phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa anh Triệu Đức Ch và chị La Thị H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các đương sự có địa chỉ thường trú tại xã PL-huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Mặc dù đã được triệu tập, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị La Thị H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Triệu Đức Ch và chị La Thị H kết hôn năm 2005, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng anh Ch- chị H không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau, chị H tự ý bỏ nhà đi, không quan tâm đến gia đình… Qúa trình giải quyết vụ án Toà án đã ra văn bản thông báo và triệu tập nhiều lần nhằm hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị H không có mặt tham gia các phiên hoà giải đã thể hiện không còn thiện chí tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này nữa. Anh Triệu Đức Ch khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa anh Ch và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Triệu Đức Ch có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh Triệu Đức Ch và chị La Thị H có ba con chung là Triệu Thanh H1 sinh ngày 01-6-2006; Triệu Hữu H2 sinh ngày 19-11-2012 và Triệu Ngọc L sinh ngày 20-5-2018; cháu H1 đã lập gia đình. Qúa trình giải quyết vụ án anh Ch đề nghị được nuôi cháu H2 và cháu L, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Xét hoàn cảnh thực tế chị H thường xuyên đi làm xa, các con đang ở cùng anh Ch. Trong biên bản lấy lời khai cháu Triệu Hữu H2 có nguyện vọng muốn được ở với bố. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị H không có mặt để thể hiện quan điểm về vấn đề nuôi con. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập cần giao các con cho anh Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do anh Ch không yêu cầu nên chị H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung; nợ chung: Anh Ch không yêu cầu nên việc giải quyết không đặt ra.
[5] Về án phí: Anh Triệu Đức Ch phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Triệu Đức Ch được ly hôn với chị La Thị H.
2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cả hai cháu Triệu Hữu H2 sinh ngày 19-11-2012 và Triệu Ngọc L sinh ngày 20-5-2018 cho anh Triệu Đức Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi; chị La Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thườ ng vu ̣ Quốc Hô ̣i quy đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi Tòa án; anh Triệu Đức Ch phải chịu 300.000 đồng án phí ly
́
́ hôn. Xác nhận anh Ch đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2023/0001853 ngày 07-6-2024.
4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; anh Triệu Đức Ch có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị La Thị H có quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục T.H.A.D.S huyện; - UBND xã PL; - Các đương sự; - Lưu HS-TA-THS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Duy Đô |