vanban.org

Bản án 105/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Lê TN phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

* Xử phạt: Bị cáo Lê TN 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022. * Về xử lý vật chứng: Tịch thu thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 47/2023/THA, hồi 11 giờ 00 phút ngày 28 tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê TN phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Lê TN phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HSST
Ngày: 23/02/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng

2. Bà Nguyễn Thị Loan.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Ninh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2022/HSST, ngày 30 tháng 12 năm 2022 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST - HS, ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê TN - sinh năm 1987. Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, phường HA, thị xã NS, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Lê Trọng Thành (đã chết) và bà Lê Thị Thương. Vợ: Lê Thị Kim Yến (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 12/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích); Ngày 18/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích). Nhân thân: Ngày 13/02/2012, bị Công an huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã NS), tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2022 đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 30/10/2022, Lê TN đến khu vực Cầu Bố, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa để mua ma túy sử dụng, Nam nhờ một người đàn ông tên Hải, thường gọi là “Hải Mộc” mua 02 gói Heroine với giá 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Nam cất giấu vào túi áo khoác và tìm nơi sử dụng, đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nam đi đến trước khu vực số nhà 01 Cao Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa thì bị Tổ công tác Công an phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi áo khoác của Lê TN 02 gói giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, kích thước mỗi gói khoảng (0,5x1)cm. Lê TN khai nhận số ma túy trên là của Nam mới mua đang cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê TN về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và niêm phong số ma túy để phục vụ công tác điều tra.

Tại Kết luận giám định số: 3818/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,232g (không phẩy hai ba hai gam), loại: Heroine.

Đối với người đàn ông tên Hải, thường gọi là “Hải Mộc” bán ma túy cho Lê TN quá trình điều tra đã xác minh, tiến hành đối chất nhưng Hải không thừa nhận, ngoài ra cũng không có các tài liệu nào khác, nên không có cơ sở để xử lý đối với Hải.

Số vật chứng của vụ án còn lại sau giám định gồm: 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 38/CT-VKSTP ngày 26/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê TN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tại phiên tòa luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê TN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm 0 khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê TN từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Lê TN đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo đã thống nhất với lời khai của những người tham gia tố tụng khác về hành vi đã thực hiện, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/10/2022, tại trước số nhà 01 Cao Sơn, phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa, Lê TN đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,232g (Không phẩy hai ba hai gam) Heroine với mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an phường An Hưng, thành phố Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê TN về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, bởi hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là vấn đề đang rất được quan tâm trong xã hội hiện nay. Hiểm họa về ma túy đã làm cho nhiều người, nhiều gia đình, nhiều thế hệ vi phạm pháp luật, là nguyên nhân dẫn tới làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Bản thân bị cáo phải là người hiểu rõ nhất về tác hại của ma túy đối với sức khỏe, nhân cách, kinh tế, hạnh phúc gia đình và hậu quả khôn lường, nhưng bị cáo không ý thức được những điều đó, vẫn tàng trữ để sử dụng. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

đối với bị cáo: Lê TN là người đã có 02 tiền án: Ngày 12/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích); Ngày 18/3/2021, bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích). Nhân thân: Ngày 13/02/2012, bị Công an huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã NS), tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Cho nên, lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Cho nên, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ những nhận xét đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.

Về hình phạt bổ xung: Xét thấy bị cáo thuộc đối tượng nghiện ma túy, phạm tội không nhằm mục đích thu lợi bất chính, là lao động tự do, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa. Số vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm 0 khoản 2 Điều 249; Điều 38; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Lê TN phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

* Xử phạt: Bị cáo Lê TN 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2022.

* Về xử lý vật chứng: Tịch thu thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao, nhận vật chứng số: 47/2023/THA, hồi 11 giờ 00 phút ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

* Về án phí: Buộc bị cáo Lê TN phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ