vanban.org

Bản án 105/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 05/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về điều luật áp dụng: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HSST
Ngày: 05/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Doãn Thị Lệ.

2. Ông Ngô Xuân Dệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Síu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vinh- Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 05/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Hữu S, sinh năm 2001 tại Gia Lai; Nơi ĐKNKTT: Số 18/01/12 đường CL, Tổ 02, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H - sinh năm 1977 và bà Võ Thị Ánh Ng - sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 21/4/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

Người tham gia tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1977. Nơi cư trú: 18/01/12 đường CL, Tổ 02, phường HL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người chứng kiến: Ông Lương Văn A; Nơi cư trú: Tổ 4 phường CL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hữu S sử dụng ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng thời gian tháng 02 năm 2023. Thông qua các mối quan hệ xã hội, S có biết người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) có bán ma túy. Vào khoảng 07 giờ ngày 21/4/2023, S đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại xe AirBlade màu xanh đen, biển số 81B3-360.07 đi làm bốc vác chanh dây tại đường LCT, phường CL, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Khi S đi đến khu vực ngã tư đường TC và đường LTT, thì gặp T. Tại đây, S đã mua của T 02 gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, S cất giấu vào trong túi quần với mục đích để sử dụng, rồi điều khiển xe mô tô biển số 81B3-360.07 đi làm. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi S đang đứng ở đường LCT, thuộc Tổ 04, phường CL, thành phố P để chờ bốc vác chanh dây thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an tỉnh Gia Lai phối hợp với Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 02 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (được niêm phong theo quy định); 01 điện thoại di động hiệu Redmi, kèm sim số đã qua sử dụng; 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe AirBlade màu xanh đen, biển số 81B3-360.07, số máy JK14E0171072, số khung RLHJK1400NZ88727

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy, vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 21/4/2023, tại khu vực ngã tư đường TC và đường LTT, phường CL, thành phố P, tỉnh Gia Lai, bị cáo đã mua của T (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,4483 gam, với giá tiền là 500.000 đồng. Sau đó, bị cáo cất giấu số ma tuý trên vào túi quần để sử dụng. Đến 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đứng ở đường LCT, thuộc Tổ 04, phường CL, thành phố P, tỉnh Gia Lai, để chờ bốc vác chanh dây thì bị bắt quả tang.

Tại Cáo trạng số 109/CTr-VKS ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố Trần Hữu S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 và khoản 2; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Hữu S từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Qua trưng cầu giám định, tại Bản kết luận giám định số 394/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 02 gói nilon, trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Phethametamine, khối lượng 0,4483 gam”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định số 394/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai.

Ý kiến của người tham gia tố tụng:

- Ông Trần Văn H (khai tại phiên tòa): ông là cha Trần Hữu S, việc bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng ông không biết, tiền bị cáo mua xe là tiền ông cho mượn, ông không có yêu cầu gì.

- Anh Lương Văn A (Lời khai tại hồ sơ): Anh chứng kiến việc bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ ma túy và xác nhận khi bị bắt quả tang bị cáo khai chất đang tàng trữ là ma túy để sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như lời khai của người làm chứng, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã tàng trữ ma túy để sử dụng. Lượng ma túy thu được của bị cáo là 0,4483 gam Methaphetamine; hành vi của bị cáo đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đối với bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Ma tuý là chất thuộc phạm vi độc quyền quản lý của Nhà nước. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không chỉ tác động có hại trực tiếp đối với người sử dụng mà còn đối với cộng đồng xã hội. Hành vi này kéo theo nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng đến sự bình yên của cộng đồng, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo phải nghiêm trị để răn đe và phòng ngừa chung đối với tội phạm.

. Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo: Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo đã tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của nhà nước. Do đó, cần quyết định cho bị cáo tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện để bị cáo cải tạo bản thân là cần thiết.

. Xét bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định mức hình phạt.

. Hành vi phạm tội của bị cáo không thu lợi cho nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Đối với đối tượng nam tên T ở thành phố P mà bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ của đối tượng trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ xử lý là phù hợp.

. Xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Redmi và 01 sim số và xe mô tô hiệu Honda, loại xe AirBlade màu xanh đen, biển số 81B3-360.07: là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo;

- Số ma túy còn lại sau giám định trong bì công văn ghi số ghi số 394/PC09 ngày 28/4/2023 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, và 01 sim số không còn giá trị sử dụng cần tiêu hủy.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các Điểm a và c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Hữu S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/4/2023.

4/ Các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bì công văn dán kín ghi số 394/PC09 ngày 28/4/2023 có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai;

+ Trả lại cho bị cáo:

01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, kèm sim số (Điện thoại cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS TP.P không kiểm tra tình trạng bên trong);

01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại xe AirBlade màu xanh đen, biển số 81B3-360.07, số máy JK14E0171072, số khung RLHJK1400NZ88727. (xe cũ, đã qua sử dụng, Chi cục THADS TP.P không kiểm tra tình trạng bên trong);

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).

- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hữu S phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ