vanban.org

Bản án 105/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng đều phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: - Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 17, Điều 38, Điều 58/BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 13/12/2022. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đông-Lò Văn Đức-Lường Văn Ngọc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng đều phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 105/2023/HSST.
Ngày: 26/4/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Kim Khánh Tùng;

2. Ông Lò Văn Sung.

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đ B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 26/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/TLST- HS ngày 17/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST- HS ngày 13/4/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lò Văn Đ, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1997, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản B, xã T X, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Biên, sinh năm 1975 và bà: Quàng Thị Thơm, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự; Nhân thân: Chưa có án tích; Ngày 06/12/2021 bị UBND xã T X, huyện Đ B ra Quyết định số 35 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn, thời hạn 06 tháng từ ngày 06/12/2021. Ngày 06/6/2022 chấp hành xong quyết định. Căn cứ Khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo chưa được xóa tiền sự; bị bắt từ ngày 13/12/2022 đến nay "Có mặt".

2. Họ và tên: Lò Văn Đ’, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1999, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản B, xã T X, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Biên, sinh năm 1975 và bà: Quàng Thị Thơm, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự; Nhân thân: Chưa có án tích; Ngày 20/7/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đ B ra Quyết định số 36 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Ngày 21/11/2022 chấp hành xong quyết định. Căn cứ Khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính, bị cáo chưa được xóa tiền sự; bị bắt từ ngày 13/12/2022 đến nay "Có mặt".

3. Họ và tên: Lường Văn Ng, tên gọi khác: Không, sinh năm: 2000, tại Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản C C, phường N T, TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà: Lường Thị Hoa, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích; không bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 13/12/2022 đến nay "Có mặt".

Người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn Biên, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Bản B, xã T X, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên "Có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày ngày 13/12/2022 bị cáo Đức đi bộ từ nhà ở Bản B, xã T X, huyện Đ B lên nhà bị cáo Ngọc ở Bản C C, phường N T, thành phố Đ B P rồi cả hai cùng đến quán phở ở bản Khá, phường N T, thành phố Đ B P để ăn sáng. Một lúc sau bị cáo Đông là anh trai ruột của Đức cũng đến ăn sáng cùng. Sau đó bị cáo Đông rủ bị cáo Đức và bị cáo Ngọc góp tiền đi mua ma túy để sử dụng. Bị cáo Đông chở hai bị cáo bằng xe đạp của mình xuống bản Xôm, xã Thanh An, huyện Đ B để tìm mua ma túy. Khi đến thôn C9, xã T X, huyện Đ B bị cáo Ngọc vào hiệu thuốc mua 02 bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất. Sau đó ba bị cáo đến bụi tre gần bản Xôm thì xuống xe để góp tiền mua ma túy, hai bị cáo Đông và Đức mỗi người góp 30.000 đồng, bị cáo Ngọc góp 20.000 đồng, tổng được 80.000 đồng. Bị cáo Đông cầm tiền rồi chở hai bị cáo đến ngôi nhà bỏ hoang của bà Lò Thị Bình ở bản Xôm, xã Thanh An. Sau đó bị cáo Đông đi tìm mua ma túy ở đầu ngõ bản Xôm, tại đây bị cáo Đông mua được 01 cục Heroine với giá tiền 80.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái, khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ). Sau đó bị cáo Đông đi bộ về nhà hoang và đưa cục Heroine cho Đức và Ngọc xem và nói “mua được Heroine rồi”. Ngọc đưa cho Đông 01 bơm kim tiêm. Hồi 11 giờ 50 phút cùng ngày khi cả ba bị cáo đang ngồi quay mặt vào nhau để chuẩn bị sử dụng Heroine thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện Đ B đã phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải của Đông đang cầm 01 cục Heroine và tay trái 01 bơm kim tiêm, thu tại tay phải Ngọc đang cầm 01 bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất, thu giữ tại tay tay phải của Đức 01 bật lửa ga màu xanh. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe đạp nữ màu trắng xanh do bị cáo Đông mượn của ông Lò Văn Biên là bố đẻ của bị cáo.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 13/12/2022 đã xác định:

Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng có khối lượng là 0,16 gam;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 85/KL-KTHS ngày 21/12/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng vật chứng thu giữ của Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng gửi giám định là Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSĐB ngày 17/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố các bị cáo Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ B vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS, Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 17; Điều 38; Điều 58/BLHS đối với các bị cáo Đông, Đức và Ngọc. Đề nghị xử phạt bị cáo Đông từ 18 đến 21 tháng tù, xử phạt bị cáo Đức từ 17 đến 20 tháng tù, xử phạt bị cáo Ngọc từ 14 đến 17 tháng tù. Áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 47/BLHS, Điểm a, c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận gì với Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo: Ngày 13/12/2022 ba bị cáo Đông, Đức và Ngọc góp tiền rủ nhau đi mua ma túy về sử dụng, khi các bị cáo đang chuẩn bị sử dụng thì bị bắt quả tang 01 cục Heroine có khối lượng 0,16 gam. Hành vi của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội của tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố. Với hành vi của các bị cáo và khối lượng ma túy bị thu giữ thì các bị cáo đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Tội phạm mà các bị cáo vi phạm là nghiêm trọng, nên cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò trách nhiệm cụ thể cho từng người nên vụ án không có tổ chức. Bị cáo Đông là người khởi sướng cũng là người thực hiện việc phạm tội tích cực, là người trực tiếp đi mua Heroine; bị cáo Ngọc là người đồng phạm tích cực vì trực tiếp đi mua kim tiêm, nước cất để sử dụng ma túy; bị cáo Đức là đồng phạm cùng góp tiền để đi mua ma túy. Do vậy, bị cáo Đông phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác.

Do bị cáo Đức trong thời gian tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ B đã bị mắc bệnh sỏi mật và phải đi phẫu thuật cắt bỏ túi mật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên hai lần, mới ra viện được hai ngày (có giấy ra viện ngày 24/4/2023), hiện nay sức khỏe của bị cáo rất yếu nên Hội đồng xét xử thấy cần phải xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Để cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là quá cao, không phù hợp. Bởi vì, đây là vụ án đồng phạm giản đơn cả ba bị cáo góp tiền để mua ma túy tổng cộng là 80.000 đồng (trong đó bị cáo Đông góp 30.000đ, Đức 30.000đ, Ngọc 20.000đ) và mua được 0,16 gam Heroine. Với khối lượng ma túy ít (0,16 gam) như trên chỉ cần áp dụng mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Tuy hai bị cáo Đông và Đức có tiền sự, nhưng các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các bị cáo đều được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo nên không chấp nhận mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Đ B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ có được là do các bị cáo mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ nên CQĐT không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ được.

. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

. Vật chứng: 0,16 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,11 gam), 01 lọ nước cất, 02 xi lanh bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh cần tịch thu tiêu tội theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe đạp nữ, màu sơn trắng xanh thu giữ của bị cáo Đức, qua xác minh là xe của ông Lò Văn Biên (Bố đẻ bị cáo), ông Biên không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy nên cần phải trả cho Lò Văn Biên là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS; Khoản 2 Điều 47/BLHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn Đ, Lò Văn Đ’, Lường Văn Ng đều phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: - Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 17, Điều 38, Điều 58/BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 13/12/2022.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 17, Điều 38, Điều 58/BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn Đ’ 14 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 13/12/2022.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS; Điều 17, Điều 38, Điều 58/BLHS xử phạt bị cáo Lường Văn Ng 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 13/12/2022.

3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

4. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,16 gam Heroine, gửi giám định toàn bộ (hoàn lại mẫu vật sau khi giám định là 0,11 gam), 01 lọ nước cất, 02 xi lanh bơm kim tiêm, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Trả lại cho chủ sở hữu là ông Lò Văn Biên, trú tại Bản B, xã T X, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên chiếc xe đạp nữ, màu sơn trắng xanh, xe cũ đã qua sử dụng theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 106/BLTTHS, Khoản 2 Điều 47/BLHS.

(Vật chứng đã được công an huyện Đ B chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B ngày 17/3/2023).

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333/BLTTHS; Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần trực tiếp có liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Kim Khánh Tùng

Lường Văn Lương

Lò Văn Sung

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND T Điện Biên

- VKSND H Điện Biên

- VKS tỉnh.

- CQĐTCA H Điện Biên

- Bộ phận HNVCAHĐiện Biên

- Sở TP Điện Biên

- THA HS tỉnh ĐB.

- Nhà tạm giữ CAHĐB;

- Chi cục THADSHĐB;

Lường Văn Lương

- Bị cáo;

- Người có QL,NVLQ;

- Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Kim Khánh Tùng

Lường Văn Lương

Lò Văn Sung

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND T Điện Biên

- VKSND H Điện Biên

- VKS tỉnh.

- CQĐTCA H Điện Biên

- Bộ phận HNVCAHĐiện Biên

- Sở TP Điện Biên

- THA HS tỉnh ĐB.

Lường Văn Lương

- Nhà tạm giữ CAHĐB;

- Chi cục THADSHĐB;

- Bị cáo;

- Lưu. HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA

HỘI THẨM NHÂN DÂN Phan Thanh Bắc

Lường Văn Lương

Lò Văn Sung

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ