vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N,
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày: 11/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Á

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Công N,

2. Bà Trần Thị D.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân quận N, thành phố C

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/HSST ngày 08/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HS ngày 22/6/2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN NGỌC H; - Giới tính: Nam; - Tên gọi khác: Không

- Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980; - Nơi sinh: H;

- Nơi ĐKTT: xã P, huyện P, tỉnh H;

- Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh;

- Tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 06/12;

- Nghề nghiệp: Tài xế;

- Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1941 (chết)

- Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị U, sinh năm 1941 (chết)

- Anh, chị em ruột: có 02 người.

- Vợ tên Nguyễn Thị P, sinh năm 1990 (đã ly hôn)

- Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: chưa.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/02/2023 đến ngày 01/3/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N, thành phố C.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa xét xử trực tuyến.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, sau khi lái xe chở khách đến thành phố C, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Nguyễn Ngọc H đến thuê phòng số 112, khách sạn T, địa chỉ: phường T, quận N, thành phố C để sử dụng ma túy. Tại đây bị cáo lấy gói nilon chứa ma túy đã mua vào ngày 19/02/2023 để một ít vào bình hút tự chế rồi sử dụng, phần ma túy còn lại trong gói nilon, bị cáo để ở trên bàn gỗ gần cửa trong phòng 112 của khách sạn T. Bị cáo vẫn ở trong phòng, đến 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra, khám xét, thu giữ tang vật 01 gói nilon không màu, hàn kín, một đầu hở chứa tinh thể không màu (thu trên bàn gỗ gần cửa trong phòng 112, khách sạn T);

Tại Kết luận giám định số 59/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1231 gam

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKSNK ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết đánh giá mức độ chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, xử lý các tang vật theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Ngọc H tại phiên tòa thừa nhận hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng nhận biết việc làm sai trái đã vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ, tang vật trong hồ sơ vụ án. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo Hiển theo kết luận giám định số 59/KL-KTHS ngày 27/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố C kết luận tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1231 gam. Như vậy, về tội danh đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội danh và điều khoản là chính xác.

Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an ninh, an toàn xã hội. Bị cáo biết tác dụng nguy hiểm của ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Ma túy là một chất gây nghiện, là một trong những nguyên nhân dẫn đến một số tệ nạn và tình trạng vi phạm pháp luật… Việc bị lôi cuốn, sa đà vào các hình thức ăn chơi, sử dụng ma túy làm ảnh hưởng đến trí tuệ và thể chất. Bị cáo là người nghiện ma túy, nên mua ma túy để sử dụng, do đó, cần xét xử một mức án thật nghiêm khắc để răn đe bị cáo và giáo dục, tuyên truyền, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, mới phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử có áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt cho bị cáo.

Đối với đối tượng bán trái phép ma túy cho bị cáo vào ngày 19/02/2023, do bị cáo khai chỉ mới mua ma túy của đối tượng này lần đầu, do chưa rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra -Công an quận N tiếp tục xác minh đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Nguyễn Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc H 01(một) năm tù. Thời hạn phạt tù của Nguyễn Ngọc H được tính từ ngày 21/02/2023.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01(một) gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng còn lại sau giám định là 0,0996gam

- 01(một) bình tự chế để sử dụng ma túy; 01(một) quẹt gas, sim điện thoại số: 0939.096.206

Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng, số IMEI: 358363/05/576824/6 (đã qua sử dụng)

Về án phí hình sự sơ thẩm: Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ