vanban.org

Bản án 105/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong kín, có đóng dấu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, những người tham gia niêm phong (bên trong chứa 0,214 gam ma túy heroin hoàn lại sau giám định). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN DŨNG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HS-ST
Ngày 27-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại phòng xét xử trực tuyến – Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Toà án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2023/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT và nơi ở: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 11/12; con ông Nguyễn Văn H và con bà Phạm Thị T; vợ là Nguyễn Thị L; có 02 con: con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

+ Ngày 25/6/2013, bị Công an phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”;

+ Ngày 29/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xử phạt 2 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 26/12/2021, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1957 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng: Anh Hà Văn S, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút, ngày 29/9/2023, tại tổ dân phố L, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tang vật thu giữ:

- Thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải đang mặc của Nguyễn Văn H 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, bên trong đựng 02 gói giấy bạc, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng (ghi là ma túy), được niêm phong trong 01 phong bì dán kín, mặt trước có ký hiệu “QT”.

- Thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98B2-988.70.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H tại tổ dân phố L, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, Cơ quan điều tra không thu giữ gì.

Cùng ngày 29/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng ra quyết định trưng cầu giám định gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang để giám định các chất thu giữ được khi bắt quả tang Nguyễn Văn H. Tại Bản kết luận giám định số 1840 ngày 03/10/2023, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 gói giấy bạc có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, được đựng trong 01 gói giấy có mặt ngoài màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 0,252 gam, loại Heroin”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận:

Do bị nghiện ma túy và biết ở khu vực đường Huyền Quang, thành phố Bắc Giang có người bán ma túy, nên khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 29/9/2023, Hưng đi xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 988.70 từ nhà ở tổ dân phố L, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng đến khu vực đường Huyền Quang, thành phố Bắc Giang để tìm mua ma túy, mục đích để sử dụng thì gặp một người phụ nữ, Hưng khai không biết tên, tuổi, địa chỉ đứng ở rìa đường. Biết người phụ nữ này có ma túy bán, Hưng đến gần hỏi đưa tiền và bảo bán cho Hưng 200.000₫ ma túy loại Heroin thì người phụ nữ đồng ý cầm tiền, rồi lấy trong người ra đưa cho Hưng 01 gói giấy màu trắng, bên trong đựng 02 gói ma tuý loại Heroin. Hưng cầm gói ma túy vừa mua được cất vào trong túi quần phía trước đang mặc trên người, rồi điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc tổ dân phố L, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật.

Từ những nội dung trên, Cáo trạng số 107/CT-VKSYD ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo xác định việc bị truy tố là đúng người, đúng tội, không oan.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98B2-988.70 là xe đăng ký tên của bị cáo Nguyễn Văn H nhưng thực tế là do ông bỏ tiền ra mua xe, vì H nghiện ngập, không có tiền để mua xe. Nay ông đề nghị trả lại chiếc xe trên cho ông sử dụng.

Người làm chứng đã được Toà án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Nguyễn Văn H từ 14 tháng tù đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/9/2023.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT” bên trong là ma túy hoàn lại sau giám định; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 988.70.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tại phần tranh luận: Bị cáo nhất trí với đề nghị về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị, nhưng đề nghị trả lại chiếc xe mô tô cho bố bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (ông Nguyễn Văn H): Đề nghị trả lại cho ông chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98B2-988.70.

*Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, tranh luận:

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98B2-988.70 được đăng ký chính chủ của Nguyễn Văn H, do vậy đây là tài sản của bị cáo H chứ không phải tài sản chung của gia đình ông H hoặc của cá nhân ông Hường. Bị cáo H sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát không đồng ý với ý kiến của bị cáo Hưng và của ông Nguyễn Văn H về việc trả lại chiếc xe trên.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa xét xử vụ án, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Theo các tài liệu điều tra, thu thập trong hồ sơ thể hiện: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 29/9/2023, tại đường liên thôn thuộc địa phận tổ dân phố L, thị trấn T, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng bắt quả tang Nguyễn Văn H đang có hành vi tàng trữ 0,252 gam ma túy loại Heroin với mục đích để sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương và đời sống xã hội. Vì ma tuý là hiểm hoạ của loài người, làm xói mòn nếp sống văn minh và đạo đức xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã từng bị kết án tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không biết lấy đó là bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm. Do vậy phải có một hình phạt thật nghiêm, buộc bị cáo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tội phạm này có quy định hình phạt bổ sung bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập. Do vậy miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xét như vậy là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với những vấn đề khác:

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ. Quá trình điều tra không xác minh, làm rõ được đối tượng này do vậy không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì thư niêm phong ký hiệu “QT” bên trong chứa 0,214 gam ma túy heroin hoàn lại sau giám định. Xét thấy vật chứng này thuộc danh mục chất cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98B2- 988.70, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn H. Bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thời hạn tù tính từ ngày 29/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong kín, có đóng dấu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, chữ ký của giám định viên, những người tham gia niêm phong (bên trong chứa 0,214 gam ma túy heroin hoàn lại sau giám định).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 98B2-988.70.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ