vanban.org

Bản án 105/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 06/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …;

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành. Về án phí phúc thẩm: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Kim Th - tội tàng trữ trái pháp chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105 /2023/HS-PT
Ngày: 06 – 9 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Bình, ông Phan Thanh Tùng.

Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLHS-PT, ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim Th; do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo bị kháng cáo: Võ Thị Kim Th (B), sinh năm 1998, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: khu phố L T, phường L B, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không. quốc tịch: Việt Nam. Con ông Võ Minh T (đã chết) và bà Đặng Thị S; sống như vợ chồng với Nguyễn Quang Nh (không đăng ký kết hôn), có 02 người con; (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không có.

Nhân thân: ngày 12/3/2017, Công an thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPVPHC xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, chưa chấp hành nghĩa vụ đóng phạt, đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2023 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị S, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố L T, phường LB, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD … (gọi tắt là Công ty Tài chính); địa chỉ trụ sở chính: Lầu X, Tòa nhà Y, số 24 C đường Phan Đăng Lưu, Phường 6, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …ông Nguyễn Hữu Nh, sinh năm 1974, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nh: ông Phạm Gia H – chức vụ trưởng phòng thu hồi nợ gián tiếp Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …. Ông H uỷ quyền lại cho anh Đàng Thanh Phg, sinh năm 1995 là nhân viên công ty; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 06/4/2023, tại ấp Thanh Phước, xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Châu Thành phát hiện Võ Thị Kim Th đang điều khiển xe mô tô biển số 70G1-915.26 có biểu hiện nghi vấn, tiến hành kiểm tra phát hiện Th đang tàng trữ trái phép 01 bịch ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ bên trong giữa điện thoại và ốp lưng điện thoại của Th đang cầm trên tay trái 01 bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (ký hiệu M1) và nhiều vật chứng khác liên quan.

Võ Thị Kim Th là người nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/4/2023, Võ Thị Kim Th điều khiển xe mô tô biển số 70G1-915.26 của mẹ ruột là bà Đinh Thị S, sinh năm 1972, ngụ khu phố Long Tân, phường Long Thành Bắc, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đi một mình đến đoạn đường Nguyễn Văn Linh thuộc khu vực xã Trường Hòa, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tìm gặp 01 người đàn ông tên Năng (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mua 01 bịch ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, Th cất giấu bịch ma túy vào trong giữa điện thoại và ốp lưng điện thoại của Th rồi cầm trên tay trái và điều khiển xe mô tô đi về hướng xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tìm nơi vắng vẻ để sử dụng ma túy thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 503/KL-KTHS ngày 07/4/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác đinh: Mẫu thu giữ, ký hiệu M1 gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 0,5372 gam

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, đã quyết định:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Võ Thị Kim Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/4/2023.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 503, có ghi chữ ký xác nhận của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 7 Plus, màu đen, số IMEL: 355348084356058 (đã qua sử dụng).

+ Trả lại cho bị cáo Th: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, biển số 70G1- 915.26, số máy: JK03E2553256, số khung: RLHJK0310NY548897 (đã qua sử dụng).

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 03/7/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …có đơn kháng cáo yêu cầu được nhận 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision của bị cáo, vì xe này bị cáo vay tiền của công ty 36.000.000 đồng đã trả mua xe, sau đó thế chấp giấy tờ xe cho công ty hiện, còn nợ 38.021.000 đồng (tiền gốc và lãi).

- Bị cáo không kháng cáo.

* Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Bị cáo Th trình bày: không đồng ý kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

- Về tố tụng: xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều được thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo luật định, hợp pháp.

- Về nội dung: Việc xử lý vật chứng của cấp sơ thẩm là đúng theo Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

*Trong phần tranh luận:

- Anh Ph trình bày: Công ty muốn được nhận xe để trừ vào vốn vay mà chị Th nợ công ty, trừ bao nhiêu anh không biết.

- Bà S trình bày: Th là con của bà, xe này là bà nhờ Th mua, tiền góp hàng tháng do bà trả. Bà không có ý kiến gì về xe này.

- Bị cáo Th trình bày: thừa nhận lời trình bày của bà S là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Thị Kim Th xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD… kháng cáo trong thời hạn luật định phù hợp tại Điều 331, 332 và Điều 333 của của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung: tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …trình bày bị cáo Th có vay tiền của công ty 36.000.000 đồng để mua xe gắn máy hiệu Honda, loại Vision, màu đỏ, biển số 70G1- 915.26, sau đó thế chấp giấy tờ xe cho công ty hiện, còn nợ 38.021.000 đồng (tiền gốc và lãi) và yêu cầu được nhận xe này khấu trừ nợ vay. Bị cáo Th thừa nhận có vay tiền của công ty mua xe nhưng không nhớ đã góp bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu và trước khi bị bắt vẫn thực hiện trả góp đúng như hợp đồng.

Xét kháng cáo của của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD.., thấy rằng:

Mặc dù bị cáo Th có vay tiền của Công ty Tài chính để mua xe trả góp. Tuy nhiên, xe này không phải là vật chứng trong vụ án, bị cáo Th, bà S trình bày là nhờ Th đứng tên mua dùm, tiền trả góp hàng tháng bà S trả thông qua Th, hiện nay không nhớ đã trả bao nhiêu, hợp đồng trả góp chưa kết thúc. Tại phiên toà anh Phương trình bày Công ty muốn lấy xe trừ nợ, còn trừ bao nhiêu tiền anh cũng không biết. Nhận thấy, giao dịch giữa bị cáo Th và Công ty tài chính là quan hệ dân sự, hai bên chưa xác định rõ số nợ còn phải Th toán là bao nhiêu, cho nên trường hợp này nếu có tranh chấp giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự. Do đó, cấp sơ thẩm không giao xe Vision, biển số 70G1-915.26 của bị cáo Th cho Công ty tài chính là có căn cứ. Cho nên, kháng cáo của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …không được Hội đồng xét xử chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của Công ty Tài chính không được chấp nhận nên Công ty Tài chính phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cấp sơ thẩm thông báo cho người kháng cáo nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng là không đúng nên hoàn lại cho người kháng cáo số tiền 100.000 đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD …;

2. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 27/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

3. Về án phí phúc thẩm: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn HD …phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, khấu trừ tiền tạm ứng án phí Công ty đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0018905 ngày 19/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, ghi nhận Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn HD … đã nộp đủ án phí. Hoàn trả lại Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn HD … số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ