- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Mỹ N với ông Trần Đô A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18-5-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ký Bé Lài.
- Ông Nguyễn Phúc Nghiêm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 397/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Mỹ N, sinh năm 2001 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp CĐ, xã PT, huyện PT, tỉnh CM.
- Bị đơn: Ông Trần Đô A, sinh năm 1999 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp CĐ, xã PT, huyện PT, tỉnh CM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Lê Mỹ N trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2020 bà và ông Trần Đô A sống chung với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện PT, tỉnh CM vào ngày 28 tháng 01 năm 2021 (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2021). Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, gia đình đã hàn gắn nhưng không mang có kết quả. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Đô A.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Trần Đô A có một người con chung tên Trần Lê Thiên P (Giới tính nam), sinh ngày 15 tháng 03 năm 2021, hiện con chung do bà nuôi dưỡng. Con chung hiện chưa đủ 36 tháng tuổi nên bà yêu cầu tiếp tục được nuôi con, không yêu cầu ông Trần Đô A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ông Trần Đô A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông Trần Đô A vắng mặt và không cung cấp lời khai, chứng cứ cho Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Mỹ N được ly hôn với ông Trần Đô A; Về con chung: Giao con chung tên Trần Lê Thiên P (Giới tính nam), sinh ngày 15 tháng 03 năm 2021, cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Mỹ N không yêu cầu ông Trần Đô A cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Trần Đô A. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Trần Đô A là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Đô A.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Mỹ N với ông Trần Đô A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2020, đến năm 2021 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân giữa bà Lê Mỹ N với ông Trần Đô A là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 19 tháng 12 năm 2022 cũng như tại phiên tòa bà Lê Mỹ N yêu cầu ly hôn với ông Trần Đô A. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Trần Đô A nhiều lần để tham gia hòa giải và xét xử nhưng ông Trần Đô A vắng mặt, không tham gia hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Lê Mỹ N. Bà Lê Mỹ N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm, bà N hiện không còn tình cảm với ông Trần Đô A. Điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Mỹ N với ông Trần Đô A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Mỹ N về việc yêu cầu ly hôn với ông Trần Đô A.
Về quyền nuôi con chung: Bà Lê Mỹ N và ông Trần Độ Anh có một người con chung tên Trần Lê Thiên P (Giới tính nam), sinh ngày 15 tháng 03 năm 2021, khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Trần Đô A cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình giải quyết vụ án ông Trần Đô A không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà N được trực tiếp nuôi con, đồng thời người con tên Trần Lê Thiên P, sinh ngày 15 tháng 03 năm 2021 đến ngày xét xử dưới 36 tháng tuổi, con chung hiện do bà N nuôi dưỡng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình “3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Lê Mỹ N về yêu cầu được nuôi con chung tên Trần Lê Thiên P. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Mỹ N không yêu cầu ông Trần Đô A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung bà Lê Mỹ N trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Lê Mỹ N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Mỹ N với ông Trần Đô A.
2. Về con chung: Giao người con chung tên Trần Lê Thiên P (Giới tính nam), sinh ngày 15 tháng 03 năm 2021 cho bà Lê Mỹ N nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Mỹ N về việc không yêu cầu ông Trần Đô A cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Đô A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Lê Mỹ N phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0018469 ngày 19 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; Bà Lê Mỹ N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Lê Mỹ N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Đô A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục THADS huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - UBND xã Phú Tân, H. Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Bình |