vanban.org

Bản án 105/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bé N.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Lý Gia Hân – sinh ngày 18/10/2008 cho bà Phan Thị Bé N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Bé N- Lý Văn Gi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bé N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Phan Thị Bé N; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2023.
V/v: Ly hôn và tranh
chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Hải Đăng.

2. Ông Lý Tuấn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 166/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 3 năm 2023, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 119/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bé N - sinh năm 1979, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: ấp Th, xã Th, huyện G, tỉnh K.

2. Bị đơn: Ông Lý Văn Gi - sinh năm 1975, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp Th, xã Th, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2023, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Phan Thị Bé N như sau:

Bà và ông Lý Văn Gi cưới nhau vào năm 1996, hôn nhân tự nguyện, ông bà sống chung từ năm 1996 cho đến 12/3/2023 và không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi cưới, bà sống hạnh phúc đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không còn hợp nhau, thường xuyên cãi vả. Ông bà đã có cuộc sống riêng gần 08 năm nay. Sau thời gian mâu thuẫn và sống ly thân, bà xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hàn gắn được, bà không còn tình cảm yêu thương ông Lý Văn Gi nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lý Văn Gi.

Thời gian chung sống với nhau ông bà có 03 người con chung tên Lý Gia H – sinh ngày 18/10/2008, hiện bà đang nuôi dưỡng; Lý Vĩ Kh – sinh ngày 16/11/1996 và Lý Khải Ngh – sinh ngày 16/11/2002, đã trưởng thành và có cuộc sống riêng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà và ông Gi không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan bà và ông Gi không có nợ chung.

Nguyện vọng:

Về quan hệ hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Lý Văn Gi.

Về con chung: Bà xin tiếp tục nuôi con chung tên Lý Gia H – sinh ngày 18/10/2008 và không yêu cầu ông Lý Văn Gi cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung tên Lý Vĩ Kh – sinh ngày 16/11/1996 và Lý Khải Ngh – sinh ngày 16/11/2002, đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lý Văn Gi đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Lý Văn Gi không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Lý Văn Gi.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn, nguyên đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự tại phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là vợ chồng. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung của bà Phan Thị Bé N. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Phan Thị Bé N có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Phan Thị Bé N không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Phan Thị Bé N.

Ông Lý Văn Gi là bị đơn trong vụ án, ông Lý Văn Gi có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Lý Văn Gi vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên, ngày 29 tháng 6 năm 2023, Tòa án làm việc với ông Hà Thanh T, giữ chức vụ Trưởng ấp Th, xã Th, huyện G để xác minh về tình trạng hôn nhân và nơi cư trú của ông Lý Văn Gi và bà Phan Thị Bé N thì được ông Tiệp cho biết ông Lý Văn Gi hiện vẫn còn hộ khẩu ở ấp Th, xã Th, huyện G nhưng ông Lý Văn Gi hiện không có mặt tại địa phương, về quan hệ hôn nhân thì ông Gi và bà N không có mâu thuẫn gì phải nhờ chính quyền can thiệp, về nợ chung của ông Lý Văn Gi và bà Phan Thị Bé N thì ông Tiệp cho biết họ không có tranh chấp về tài sản hay nợ nần với ai. Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Lý Văn Gi vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lý Văn Gi.

Về hôn nhân: Bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là hôn nhân tự nguyện, ông bà có tổ chức đám cưới theo phong tục nhưng ông bà không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Trong quá trình chung sống, ông bà cũng không có đăng ký kết hôn, do ông bà không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân không hợp pháp nên căn cứ vào Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ giữa bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là vợ chồng.

Về con chung: Bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi có ba người con chung tên Lý Gia H – sinh ngày 18/10/2008, Lý Vĩ Kh – sinh ngày 16/11/1996 và Lý Khải Nghi – sinh ngày 16/11/2002.

Hiện Lý Vĩ Kh – sinh ngày 16/11/1996 và Lý Khải Ngh – sinh ngày 16/11/2002 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy, Hội đồng xét xử miễn xét.

Ông Lý Văn Gi không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Phan Thị Bé N có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Lý Gia H – sinh ngày 18/10/2008 và cháu Hân có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của bà Phan Thị Bé N.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị Bé N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị Bé N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn và đại diện Viện kiểm sát có đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Phan Thị Bé N phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006728, ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 9, 53, 58 và 131 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Bé N.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Phan Thị Bé N và ông Lý Văn Gi là vợ chồng.

Về con chung: Giao cháu Lý Gia Hân – sinh ngày 18/10/2008 cho bà Phan Thị Bé N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Lý Văn Gi được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông thực hiện quyền này.

Các đương sự được quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: HĐXX miễn xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Phan Thị Bé N phải chịu nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0006728, ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ