- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Trần Công T
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2023/HN-ST Ngày: 24/7/2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
2. Bà Hà Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1994 (yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: số A, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Trần Công T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: số C, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/01/2023, bản tự khai, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng N trình bày:
Chị và anh Trần Công T quen biết nhau rồi tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/8/2016. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh T là do thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến năm 2019 hai bên có nhiều mâu thuẫn, không cùng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh T không biết chăm lo cho gia đình, không làm ra kinh tế, anh T chỉ biết ăn chơi. Chị khuyên nhiều lần nhưng không được. Cha mẹ hai bên cũng khuyên anh T nhưng anh T cũng không chịu sửa đổi. Chị và anh T đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên nhiều lần gặp nhau nhưng cũng không giải quyết được mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị xác định không còn tình cảm với anh T và nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Công T.
Về con chung: có 01 con chung tên Trần Nguyễn Kim N1, sinh ngày 15/12/2016, từ khi sống ly thân đến nay cháu N1 do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Trần Công T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị N, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Trần Công T. Về con chung: Giao cháu Trần Nguyễn Kim N1 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Công T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Công T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 18/8/2016. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Trần Công T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị N và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh T không biết chăm lo cho gia đình, làm cho vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị cũng tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Chị N và anh T đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên nhiều lần gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh T vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị N. Điều đó thể hiện anh T đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh T là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Trần Nguyễn Kim N1, sinh ngày 15/12/2016 từ khi chị N và anh T sống ly thân, cháu N1 vẫn do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Chị N nuôi con chung và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi tròn 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Hồng N có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) anh Trần Công T có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng N đối với anh Trần Công T
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng N có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Nguyễn Kim N1, sinh ngày 15/12/2016. Anh Trần Công T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng/ tháng) cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 24/7/2023.
Anh Trần Công T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí:
+ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Nguyễn Thị Hồng N có nghĩa vụ phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001312 ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí vụ kiện chị N đã nộp xong.
+ Án phí cấp dưỡng nuôi con: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), anh Trần Công T có nghĩa vụ phải nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã A; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Văn Long |