- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Thị P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/HSST Ngày: 25 tháng 11 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Khắc Tường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thanh Trà
2. Ông Phạm Xoa
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Cán bộ Toà
án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu – 344A Lê
Thanh Nghị, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2022/HSST ngày 18.10.2022 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị P - sinh ngày 20 tháng 11 năm 1984 tại tỉnh Thừa Thiên
Huế. Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã B, huyện H, tỉnh T. Chỗ ở hiện nay: K71/… T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Số CMND/CCCD: 046184005… cấp ngày 30 tháng 5 năm 2022; Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiê ̣p: Lao động phổ thông. Con ông: Trần Văn T (sinh năm: 1950, chết) và bà Huỳnh Thị B (sinh năm: 1955, chết). Chồng : Võ Ngọc H (không có đăng ký kết hôn), có 04 người con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018). Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 01.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên
tòa.
* Người bị hại: Bà Trần Thị D – sinh năm 1967 ( vắng mặt )
Địa chỉ: K112/… T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình H – sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: 133 B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
- Ông Võ Ngọc H - sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: K71/… T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14h00 ngày 22.6.2022, bà Trần Thị D đang bán hàng gần ngã tư đường
Ông Ích Khiêm – Hùng Vương, phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà D có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, màu đen bên cạnh những lốc nước ngọt ở trên quầy hàng. Lúc này Trần Thị P đang ngồi uống nước tại quán, lợi dụng lúc bà D sơ hở, P đã lén lút lấy trộm điện thoại trên. Sau đó, P mang đến Cửa hàng điện thoại Q, tại số 305 T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng bán cho anh Nguyễn Đình H với giá 2.500.000đồng, tiêu xài cá nhân hết. Anh H bán điện thoại này cho người khác nên không thu hồi được.
* Tang vật thu giữ:
- 01 đĩa DVD-R chứa đoạn video dài 04 phút ghi lại hình ảnh liên quan đến việc
trộm cắp tài sản của Trần Thị P (được trích xuất từ camera giám sát do Ban quản lý Chợ Cồn cung cấp), lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
- 01 xe môtô nhãn hiệu AMAZE, biển kiểm soát 43T1 – 5767.
Kết luận giám định tài sản số 100/KL-HĐĐG ngày 02.8.2022 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân quận Hải Châu kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 nêu trên có trị giá 3.523.000đ.
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKSHC ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Thị P về tội "Trộm cắp tài sản " theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên
quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 Bộ
luật hình sự để xử phạt bị cáo Trần Thị P từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Trộm cắp tài sản".
- Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại và không có
yêu cầu gì thêm nên không đề cập xem xét.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét
xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Thị
P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 14h00 ngày 22.6.2022, tại ngã tư đường Ông Ích Khiêm – Hùng Vương,
phường Hải Châu 2, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Trần Thị P có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13 của bà Trần Thị D. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.523.000đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng số 84/CT-VKSHC ngày 18 tháng 10 năm 2022 của Viện Kiểm
sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã
thực hiện thấy rằng hành vi này không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội này của bị cáo.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vị phạm tội của bị cáo Trần Thị P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự.
Bị cáo Trần Thị P phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng
gây thiệt hại không lớn. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là phụ nữ và hiện đang nuôi con nhỏ. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà căn cứ Điều 36 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục cũng như tạo điều kiện để bị cáo nuôi con nhỏ. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục giúp bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Trần Thị P không có công việc, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên xét miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận đề nghị
của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận bồi thường thiệt hại và không có yêu
cầu gì thêm nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Hội đồng xét xử thấy rằng các vật chứng thu giữ trong vụ án như nêu trên đã đươc
Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng đúng với quy định tại khoản 3 điều 106 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng đối với 01 đĩa DVD-R chứa đoạn video dài 04 phút ghi lại hình ảnh liên quan đến việc trộm cắp tài sản của Trần Thị P, cần được lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đình H có mua
điện thoại từ P nhưng không biết đây là tài sản do P trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu không đề cập xử lý là có cơ sở.
* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Ngọc H là người cho
bị cáo P mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu AMAZE, biển kiểm soát 43T1 – 5767, khi cho mượn ông H không biết bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã trả lại xe cho ông H là có căn cứ.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị P phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 36 Bộ luật
hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị P 12 ( mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội
"Trộm cắp tài sản". Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Trần Thị P về Ủy ban nhân dân phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành
phố Đà Nẵng để giám sát giáo dục.
2. Về án phí:
Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Thị P phải chịu là 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự
sơ thẩm
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án TP Đà Nẵng. - VKSND thành phố Đà Nẵng; - VKSND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - PHSNV CA quận Hải Châu; - Chi cục THA quận Hải Châu; - UBND phường Hòa An; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Hội thẩm nhân dân Lê Truyền Bình huỳnh Thanh Trà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Khắc Tường Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm khắc Tường |