- Tranh chấp gì? án hình sự — "may van ma tuy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 199 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương M và Vi M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 105/2022/HSST Ngày: 04 /11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Minh Sơn
2. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Nở – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2022/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2022/HSST-QĐ ngày 18/10/2022 đối với các bị cáo:
1. LƢƠNG M, sinh năm 2001 tại Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản X, xã K, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Lương T và bà Quang P; vợ, con chưa có; Tiền án: 01 (Ngày 15/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 14 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HSST ; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2022 cho đến nay.
2. VI M, sinh năm 1979 tại Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản X, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Vi T (đã chết) và bà Vi N; vợ Lê O và có 02 người con, sinh năm 2000 và năm 2010; Tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa lần nào bị xử lý hành chính hoặc kết án về hành vi vi phạm pháp luật; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/7/2022 cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lương M và Vi M: Bà Phan Thị Vân - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Phước (bà Vân có đơn xin vắng mặt và có văn bản bào chữa cho các bị cáo)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương M và Vi M có mối quan hệ là bạn bè và cũng là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (Heroin). Khoảng 13 giờ ngày 15/6/2022, V gọi điện nhờ May sang phòng số 8 nhà trọ Quỳnh Trang thuộc tổ 3, KP2, phường Minh Hưng, thị xã Chơn Thành phụ V dọn đồ chuyển đi nơi khác ở. Sau đó, May nói với Bị cáo V: “Đi tìm hàng chơi không Bác”, tức M rủ Bị cáo V đi mua ma túy để sử dụng, Bị cáo V đồng ý. Do trước đó M đã cùng Bị cáo V mua ma túy của một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực dãy trọ phía trong KCN Bàu Bàng nên M chở Bị cáo V đến khu vực dãy trọ nêu trên để mua ma túy. Do M không có tiền nên M nói Bị cáo V đưa tiền để đi mua ma túy, Bị cáo V lấy tiền trong ví đưa cho May 500.000 đồng, còn Bị cáo V ngồi ở một quán nước gần đó đợi. M cầm tiền và đi bộ vào dãy trọ gặp người thanh niên đang đứng ở cuối dãy phòng trọ hỏi mua 400.000 đồng ma túy (Heroine) và May đưa 500.000 đồng cho người thanh niên này. Người thanh niên đưa cho M 02 đoạn ống hút bằng nhựa, bên trong có chứa ma túy (Heroine) và trả lại cho M 100.000 đồng. Để tiện cho việc liên lạc mua ma túy nên M xin tài khoản Facebook của người thanh niên, người này nói tên “Nam Tào”. Sau khi mua được ma túy, M đi ra đưa lại cho Bị cáo V 100.000 đồng rồi May bỏ 02 đoạn ống hút bằng nhựa có chứa ma túy (Heroine) vào vỏ bao thuốc lá hiệu “Thăng Long” cất giấu trong cốp xe. M chở Bị cáo V đến một lô cao su gần đó (không rõ địa điểm) ở KCN Bàu Bàng để cả hai sử dụng. Khi đến Bị cáo V và M lấy 01 đoạn ống hút trong cốp xe ra rồi cả hai cùng sử dụng. Trong lúc đang sử dụng thì trời mưa nên Bị cáo V và M cất số ma túy còn dư vào cốp xe rồi cả hai điều khiển xe về phòng trọ của Bị cáo V. Do Bị cáo V và vợ xảy ra mâu thuẫn nên vợ Bị cáo V bỏ đi. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Bị cáo V và M lấy số ma túy còn dư tiếp tục sử dụng. Số ma túy còn lại trong 01 đoạn ống hút Bị cáo V đổ vào mảnh giấy, gói lại và cất trong túi quần tây, màu đen treo ở gần cửa ra vào để sử dụng cho lần sau. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, lực lượng Công an xã Minh Hưng (nay là phường Minh Hưng) đến kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện gói ma túy trên nên tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong.(BL 45-55)
Kết quả test ma túy: Vi M và Lương M nêu trên đều dương tính với ma túy Heroin.
Kết luận giám định số: 132/KL(MT)-KTHS ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước xác định: Chất bột màu trắng có trong 01 (một) gói giấy được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1074 gam.(BL 86-90)
Quá trình điều tra thu giữ: 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0600 gam Heroin (là mẫu vật hoàn lại sau giám định), đề nghị tịch thu tiêu hủy,
Đối với xe mô tô hiệu Sirus, biển số 37D1 – 117.72 của ông Lương T, sinh năm 1976, chỗ ở: Bản X, xã K, huyện T, Nghệ An (bố ruột của M) đứng tên sở hữu. Gia đình giao chiếc xe trên để M sử dụng làm phương tiện đi làm công nhân tại KCN Minh Hưng – Hàn Quốc. Việc May sử dụng chiếc xe đi mua ma túy như trên thì ông T và gia đình không biết. Xe có nguồn gốc hợp pháp. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để trả lại cho chủ sở hữu.
Bản cáo trạng số 96/CTr-VKS, ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lương M và Vi M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên bị cáo M có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lương M mức án từ 12 tháng đến 16 tháng tù
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vi M mức án từ 16 đến 20 tháng tù
Người bào chữa cho các bị cáo: Người bào chữa cho các bị cáo đồng ý về tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên do các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng hình phạt ở mức thấp nhất theo mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Lương M và Vi M có mối quan hệ quen biết và là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 15/6/2022 Lương M và Vi M đã bàn bạc cùng nhau mua ma túy về sử dụng. May và Bị cáo V sử dụng số tiền 400.000đ để mua ma túy của một đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch tại khu công nghiệp huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, sau đó M và Bị cáo V đi đến lô cao su ở gần KCN Bàu Bàng để sử dụng ma túy, số còn lại M và Bị cáo V cất dấu vào vào cốp xe rồi cả hai điều khiển xe mô tô về phòng trọ của Bị cáo V. Khoảng 16 giờ cùng ngày thì M và Bị cáo V lấy một ít ma túy ra sử dụng tiếp, số ma túy còn lại Bị cáo V gói vào mảnh giấy cất trong túi quần tây treo ở gần cửa ra vào. Đến 17 giờ ngày 15/6/2022 lực lượng công an xã Minh Hưng kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ, niêm phong số ma túy trên. Kết luận giám định xác định tinh thể màu trắng có trong gói giấy được niêm phong là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1074 gam. Hành vi cất dấu ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Lương M và Vi M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý để phục vụ trong y học, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự địa phương, vi phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, lối sống. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 96/CTr-VKS, ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vi M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lương M có 01 tiền án chưa được xóa án tại bản án số 90/2021/HSST ngày 15/6/2021 của TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo là người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn thấp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong vụ án này, bị cáo M và Bị cáo V cùng nhau sử dụng ma túy trong đó bị cáo M là người chủ động rủ bị cáo Bị cáo V cùng đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo M từng có 01 tiền án chưa được xóa tích mà không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Bị cáo V phạm tội lần đầu, trình độ học vấn thấp. Do đó, cần xử phạt bị cáo M mức án nghiêm khắc hơn và cách li các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0600 gam Heroin (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) nên cần tịch thu tiêu hủy,
Đối với xe mô tô hiệu Sirus, biển số 37D1 – 117.72 của ông Lương T, sinh năm 1976, chỗ ở: Bản X, xã K, huyện D, Nghệ An (bố ruột của M) đứng tên sở hữu. Gia đình giao chiếc xe trên để M sử dụng làm phương tiện đi làm công nhân tại KCN Minh Hưng – Hàn Quốc. Việc May sử dụng chiếc xe đi mua ma túy như trên thì ông T và gia đình không biết. Xe có nguồn gốc hợp pháp. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa là phù hợp quy định pháp luật nên được hội đồng xét xử chấp nhận
Đối với đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch bán ma túy cho M và Bị cáo V. Cơ quan điều tra đã chuyển tin báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xử lý theo thẩm quyền.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lương M và Vi M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 17, 50, 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lương M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2022.
2.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 17, 50, 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi M 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/7/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0600 gam Heroin (là mẫu vật hoàn lại sau giám định)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND tỉnh Bình Phước - VKSND thị xã Chơn Thành; - CCTHADS thị xã Chơn Thành; - CA thị xã Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ung Thị Ngọc Thanh |