vanban.org

Bản án 105/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 31/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thế D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo của bản án số 61/2021/HSST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo Đặng Thế D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thế D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/ HS - ST
Ngày 31- 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Phụng

2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

- Thư ký phiên Tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên Tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/TLST

- HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/QĐXXST- HS ngày 19/8/2022 đối với:

Bị cáo Đặng Thế D, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1977.

Nơi cư trú: thôn HDN, xã DN, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc T và bà Nguyễn Thị N; có vợ: Phạm Thị Phương H; có: 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án: 01

Bản án số 61/2021/HSST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Đặng Thế D 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “Cố ý gây thương tích”; án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng, thi hành xong án phí ngày 09/9/2021.

Tiền sự: Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 29/5/2022 đến 01/6/2022 chuyển tạm giam. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.

* Người chứng kiến:

- Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú tại số nhà 06/05, đường NT, tổ 04, phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình

- Anh Bùi Đình T, sinh năm 1977, trú tại ngõ 283, đường TL, tổ 11, phường Trần Lãm, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Vắng mặt: Anh V, anh T).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên Tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 29/5/2022, Đặng Thế D đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường Kỳ Đồng, khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình với mục đích mua ma túy là Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi D xuống xe trả tiền xe ôm sau đó đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một nam giới khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 200.000 đồng được 01 gói ma túy là Heroine gói bằng giấy trắng bạc màu trắng. D nhận và cầm gói ma túy ở lòng bàn tay trái sau đó đi tìm chỗ sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày khi D đi đến khu vực khu vực trước cổng trường Tiểu học Phú Khánh, đường Doãn Khuê, tổ 02, phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện và yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Tiến Vinh và anh Bùi Đình Thịnh, D tự giác đưa từ lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài gói bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục. D khai nhận đó là ma túy của D, mua về với mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong gói ma túy theo quy định, sau đó yêu cầu D và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại đây, kiểm tra người D thu tại túi quần bên trái của D 01 điện thoại Nokia 105, màu đen, đã cũ. Ngoài ra không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Bản kết luận giám định số 179/KL - KTHS(MT) ngày 30/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật quản lý của Đặng Thế D gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1911 gam.

Tại phiên Tòa bị cáo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 113/CT- VKSTPTB ngày 21/7/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Đặng Thế D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo D về tội danh và điều luật như bản cáo trạng số 113/CT- VKSTPTB và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Thế D. Xử phạt bị cáo Đặng Thế D 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo của bản án số 61/2021/HSST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo Đặng Thế D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.

Bị cáo D không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội đối với bị cáo tại phiên Tòa. Bị cáo D nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên,Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và người chứng kiến không khiếu nại hay có ý kiến gì nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập hồi 11 giờ 20 phút ngày 29/5/2022 tại trụ sở Công an phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình hồi 12 giờ 25 phút ngày 29/5/2022 tại trụ sở Công an phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; bản kết luận giám định số 179/KL-KTHS(MT) ngày 30/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu vật quản lý của Đặng Thế D gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1911 gam; lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Tiến Vinh và anh Bùi Đình Thịnh. Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 29/5/2022, tại khu vực trước cổng trường Tiểu học Phú Khánh, đường Doãn Khuê, tổ 02, phường Phú Khánh, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Đặng Thế D có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,1911 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo D đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

. Đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 túi ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1911 gam, mục đích để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu và đã bị kết ánh về tội: “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1, bố bị cáo được thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được áp dụng 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt:

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cai được ma túy đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tại bản án số 61/2021/HSST ngày 20/5/2021 bị cáo Đặng Thế D bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là bốn năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/5/2021. Lần phạm tội mới này bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự và căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, bị cáo D được hưởng án treo nhưng bị cáo đã phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự .

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo D có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với số Heroine, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo D còn lại sau khi giám định là 0,1268 gam và bao gói, cần áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với một điện thoại di động Nokia 105 màu đen là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo D không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo điện thoại trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về nguồn gốc Heroine: Đặng Thế D khai mua ma túy của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ, tại khu vực khu vực đường Kỳ Đồng, khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Thái Bình nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình không có căn cứ để điều tra, xử lý.

. Về án phí: Bị cáo D phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47; Điều 56; Khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thế D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thế D 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo của bản án số 61/2021/HSST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo Đặng Thế D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2022. 3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số Heroine thu được của bị cáo Đặng Thế D còn lại sau khi giám định là 0,1268 gam và bao gói. Trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen cho bị cáo Đặng Thế D.

(Số vật chứng trên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2022).

4. Về án phí: Bị cáo Đặng Thế D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 31/8/2022.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ