- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ vào: Điểm L khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/HS - ST Ngày: 24/06/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Bà Hoàng Thị Thoa
Các Hội thẩm nhân dân
Ông Đặng Như Hùng
Ông Nguyễn Quang Đạt
Thư ký ghi biên bản phiên tòa
Ông Vũ Thanh Tùng
Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tố Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 24/6/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ Csố: 106/2022/HSST ngày 06/6/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2022/QĐXXST-HS ngày 09/6/2022 đối với bị cáo có Clịch như sau:
Họ và tên: CHU VĂN Đ, sinh ngày 08/01/1956. ĐKHKTT và chỗ ở: Số 34 T, phường H, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 5/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn P (đã chết); Con bà: Vương Thị Q (đã chết); Con: 01 con sinh năm 1986; Tiền án, tiền sự; Không. Nhân thân: 09 tiền sự (hết thời hiệu); 03 tiền án (đã xóa)
- Ngày 16/5/1973 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”
- Ngày 17/01/1975 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
- Bản án số 200/2014/HSST Ngày 29/8/2014, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 19/10/2018.
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Chu Hữu T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số 92 L, phường C, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h30 ngày 12/01/2022, tổ công tác đội 7 phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an Thành phố Hà Nội phối hợp công an phường K, quận Thanh Xuân, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lê Trọng Tấn, phường K, Thanh Xuân, Hà Nội. Khi tổ công tác đi đến khu vực đầu ngõ 192 Lê Trọng Tấn, phường K Thanh Xuân, Hà Nội phát hiện Chu Văn Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ, BKS 61B1-64706 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này Đ điều khiển xe tăng tốc bỏ chạy, tổ công tác đuổi theo và Đ bị ngã xe máy. Tổ công tác đưa Đ về trụ sở công an phường K để tiếp tục làm rõ. Tại trụ sở công an, Đ khai nhận đang cất giấu ma túy và tự giác giao nộp 01 túi ni lông bên ngoài ghi chữ “ROYAL WHITE”, bên trong có một hộp giấy màu xanh bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng 5x10cm bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp loại Ketamine, Đ khai để sử dụng cho bản thân.
* Công an giữ của Chu Văn Đ:
- 01 túi nilong màu hồng, bên trong có 01 hộp giấy màu xanh kích thước khoảng 05x10x18cm, bên trong có 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 05x10cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.
- 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Chu Văn Đ.
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen xám, số thuê bao 0988828682.
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ, biển kiểm soát: 61B1-64706.
Tại cơ quan điều tra, Chu Văn Đ khai nhận: Khoảng 17h00 ngày 12/01/2022, Chu Văn Đ đang ở nhà tại số 34 T, phường H, Hoàn Kiếm, Hà Nội thì có một người bạn xã hội tên là “Đ Bộ Đội” sử dụng số điện thoại 0981984633 gọi vào số điện thoại 0988828682 của Đ để rủ Đ đi chơi. “Đ Bộ Đội” nói với Đ có ma túy tổng hợp loại Ketamine ngon có mua không? Đ bảo “Đ Bộ Đội” bán cho 20.000.000đồng ma túy Ketamine để Đ sử dụng, “Đ Bộ Đội” đồng ý và hẹn Đ đến ngõ 192 Lê Trọng Tấn, phường K, Thanh Xuân, Hà Nội để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó Đ điều khiển xe máy đi xuống đầu ngõ 192 Lê Trọng Tấn, khi đến nơi Đ gọi cho “Đ Bộ Đội”, khoảng 5 phút sau có hai nam giới điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10 màu trắng đến, người nam giới ngồi bên ghế phụ có đưa cho Đ một túi ni lông màu hồng bên trong có chứa ma túy Ketamine và nói là “Đ Bộ Đội” gửi, sau đó hai người nam giới điều khiển ô tô đi luôn. Đ treo túi ni lông vào móc treo của xe máy rồi đi về nhà thì bị tổ công tác kiểm tra, bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.
Tại bản kết luận giám định số 449/KLGĐ-PC09 ngày 13/01/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 56,63 gam.
Đối với “Đ Bộ Đội” người bán ma túy cho Chu Văn Đ, Đ khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của “Đ Bộ Đội”, chỉ biết “Đ Bộ Đội” dùng số điện thoại 0981984633. Qua xác minh số điện thoại trên, thuê bao không có thông tin chứng minh thư. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với hai người nam giới điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, Đ chưa gặp hai người nam giới này và cũng không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của hai người nam giới trên. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Vision màu đen-đỏ đã qua sử dụng, BKS: 61B1-64706, số khung: RLHJF5803EY820053, Số máy: JF58E-082008, Đ khai nhận do Đ mượn chiếc xe máy trên của Chu Hữu T là con ruột của Đ, khi mượn xe Đ không nói cho T biết việc mình đi mua ma túy. Tiến hành ghi lời khai của anh Chu Hữu T, anh T khai khoảng năm 2018 T mua lại chiếc xe trên của một người đàn ông không quen biết (T không biết tên, tuổi của người này), khi mua xe Tchưa làm thủ tục sang tên chính chủ cho Tnhưng Tcầm đăng ký của chiếc xe này. Ngày 12/1/2022 Chu Văn Đ (bố đẻ T) mượn xe đi công việc nên T không biết Đ sử dụng xe để đi mua ma túy, anh T đề nghị được trả lại chiếc xe máy này. Tiến hành xác minh chiếc xe máy BKS: 61B1-64706, số khung: RLHJF5803EY820053, Số máy: JF58E-082008 cho kết quả chủ sở hữu là chị Võ Thị Kim Ngân (sinh năm 1978; Noi cư trú: Số 293/45, tổ 24 khu phố 2, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương). Chị Ngân khai năm 2015 mua chiếc xe trên làm phương tiện đi lại, đến năm 2017 do không có nhu cầu sử dụng đã bán lại cho một người đàn ông không quen biết ở chợ xe (chị Ngân không biết tên, tuổi của người này) hiện chị Ngân không phải là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy trên. Cơ quan CSĐT – Công an quận Thanh Xuân đã đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe trên, đến thời điểm hiện tại chưa có cá nhân nào khác đến khai nhận chiếc xe máy trên.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, Imei: 353961101053482, bên trong lắp sim số 0988828682, Đ khai sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Đối với 01 (một) ví giả da màu đen bên trong có một căn cước công dân mang tên Chu Văn Đ là tài sản của Đ.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKSTX ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố bị cáo Chu Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm L khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo Đ thừa nhận việc bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm L khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Chu Văn Đ từ 6 năm đến 6 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.
- Về xử Cvật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Cường; Cán bộ PC04 Tạ Bình Minh; bị cáo Chu Văn Đ; Người chứng kiến Chu Hữu T và đóng dấu của CQCSĐT-CATP Hà Nội; Bên trong có 54,25 gam ma túy loại Ketamine, (thu giữ ban đầu là 56,63 gam, PC09 trích mẫu giám định 2,38 gam);
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, Imei: 353961101053482, bên trong lắp sim số 0988828682.
+ Trả lại cho bị cáo 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 (một) căn cước công dân mang tên Chu Văn Đ.
+ Hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày đăng báo 21/4/2022 nếu không tìm được chủ sở hữu đối với chiếc xe máy Honda Vision màu đen-đỏ đã qua sử dụng, BKS: 61B1-64706 thì trả lại cho anh Chu Hữu T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.
Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 30 ngày 12/01/2022 tại khu vực đầu ngõ 192 Lê Trọng Tấn, K, Thanh Xuân, Hà Nội, bị cáo Chu Văn Đ có hành vi tàng trữ 56,63 gam ma túy loại Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác đội 7 phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Chu Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm L khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản Cđộc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức rõ tác hại nhiều mặt của ma túy đến sức khỏe và đời sống của con người, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Về nhân thân bị cáo có 03 tiền án đã được xóa án tích, hiện nay bị cáo là người cao tuổi nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân mà vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu và coi thường pháp luật. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử Cvật chứng:
- Tang vật của vụ án cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01(một) phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Cường; Cán bộ PC04 Tạ Bình Minh; bị cáo Chu Văn Đ; Người chứng kiến Chu Hữu Tvà đóng dấu của CQCSĐT-CATP Hà Nội; Bên trong có 54,25 gam ma túy loại Ketamine, (thu giữ ban đầu là 56,63 gam, PC09 trích mẫu giám định 2,38 gam); 01 hộp giấy màu xanh, 01 túi nilong màu hồng.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, Imei: 353961101053482, bên trong lắp sim số 0988828682 bị cáo dùng liên lạc để mua ma túy, xét có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Trả lại bị cáo 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 (một) căn cước công dân mang tên Chu Văn Đ.
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu đen-đỏ đã qua sử dụng, BKS: 61B1-64706, anh Tkhai khoảng năm 2018 anh mua lại chiếc xe trên của một người đàn ông không quen biết, khi mua xe anh Tchưa làm thủ tục sang tên chính chủ cho Tnhưng Tcầm đăng ký của chiếc xe này. Ngày 12/1/2022 bị cáo Đ mượn xe đi công việc nên Tkhông biết bị cáo Đ sử dụng xe để đi mua ma túy. Quá trình điều tra anh Tđề nghị được trả lại chiếc xe máy này. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo ngày 21/4/2022 để tìm chủ sở hữu, đến thời điểm hiện tại chưa có cá nhân nào khác đến khai nhận chiếc xe máy trên. Do vậy cần tiếp tục đăng báo hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21/4/2022 nếu không tìm được ai là chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe máy Honda Vision màu đen - đỏ đã qua sử dụng, BKS: 61B1-64706 thì trả lại cho anh Chu Hữu Lộc.
Các vấn đề khác:
- Đối với người bán ma túy cho Chu Văn Đ có tên “Đ Bộ Đội”, Đ khai không biết rõ họ tên, tuổi, địa chỉ của “Đ Bộ Đội”, chỉ biết “Đ Bộ Đội” dùng số điện thoại 0981984633. Qua xác minh số điện thoại trên, thuê bao không có thông tin chứng minh thư. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
- Đối với hai người nam giới điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai i10, Đ chưa gặp hai người nam giới này và cũng không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, số điện thoại của hai người nam giới trên. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ vào: Điểm L khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
2/ Tuyên bố: Bị cáo Chu Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3/ Xử phạt bị cáo Chu Văn Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4/ Về xử Cvật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Vũ Việt Cường; Cán bộ PC04 Tạ Bình Minh; bị cáo Chu Văn Đ; Người chứng kiến Chu Hữu Tvà đóng dấu của CQCSĐT-CATP Hà Nội; Bên trong có 54,25 gam ma túy loại Ketamine, (thu giữ ban đầu là 56,63 gam, PC09 trích mẫu giám định 2,38 gam); 01 hộp giấy màu xanh, 01 túi nilong màu hồng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen xám đã qua sử dụng, Imei: 353961101053482, bên trong lắp sim số 0988828682.
- Trả lại bị cáo 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 (một) căn cước công dân mang tên Chu Văn Đ.
- Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe máy Honda Vision màu đen - đỏ đã qua sử dụng BKS: 61B1-64706 đến hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21/4/2022, nếu không tìm được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại cho anh Chu Hữu Lộc.
- Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/6/2022.
5/ Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng: Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
- Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Cvà sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
Bị cáo Chu Văn Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo các vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Thanh Xuân; - Công an quận Thanh Xuân; - Chi cục THADS quận Thanh Xuân; - Bị cáo; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) NGUYỄN HẢI YẾN |