vanban.org

Bản án 105/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. An Dương, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584 và 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M số tiền 2.

Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Về án phí: Áp dụng Điề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn T hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584 và 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M số tiền 2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/HS-ST
Ngày 06-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Thư

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Chính - Thư ký Toà án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2022/TLST-HS ngày 03/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2022/QĐXXST-HS ngày 23/11/2022 đối với bị cáo:

Trần Văn T sinh ngày 24/4/1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K2, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Vũ Thị B; có vợ Đinh Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 01/8/2022; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn M sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn K2, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước với gia đình anh Trần Văn M, sinh năm 1975, ở thôn K2, xã Q, huyện An Dương trong việc gia đình anh Minh xây tường bao và sử dụng phần đất giữa hai bên nên khoảng 18 giờ 50 phút ngày 30/7/2022, Trần Văn T ra khu vực tường bao chửi bới. Sau đó, T đã dùng tay xé rách một đoạn của tấm bạt nilon kích thước 15mx2m màu xanh - cam của gia đình anh M đang che phần tường bao, dùng tay đẩy, dùng chân đạp đổ một phần bức tường bao rồi đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, T lấy chiếc búa rìu có chiều dài 37,5cm, đầu búa bằng kim loại tối màu kích thước 5cm x 2,5cm, phần lưỡi rộng 7,4cm, cán bằng gỗ dài 3cm tại khu bếp của gia đình ông Trần Văn T, sinh năm 1953, ở cùng thôn (bố đẻ T) lại đi ra khu vực này, tiếp tục chửi bới anh M, đồng thời dùng chân đẩy đạp bức tường bao, tay trái cầm búa rìu đập nhiều lần vào bức tường bao làm hư hỏng một đoạn tường bao dài 07m x 0,95m. Anh Nguyễn Văn M đã đến cơ quan công an trình báo.

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 31/7/2022, tổ công tác Công an huyện A tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc. Trong khi tổ công tác làm nhiệm vụ đo đạc tại khu vực tường bao, Trần Văn T đứng tại khu vực ngõ chung chửi bới rồi vào nhà lấy 01 thanh kiếm bằng kim loại, dài khoảng 70cm bản rộng 03cm màu đen, cán bằng gỗ, cầm ở tay trái ra khu vực cổng nhà T vừa giơ kiếm vừa chửi bới, lăng mạ nhưng không nhằm chém vào ai. Sau đó, T bị lực lượng Công an khống chế, đưa về trụ sở để làm việc.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 13/KL-HĐĐG của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện A ngày 01/8/2022 kết luận: Tổng giá trị tài sản T hủy hoại của gia đình anh M là 2.300.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên. T đập phá bức tường bao của gia đình anh M vì cho rằng anh M xây trên đất của gia đình T. Khi thấy tổ công tác Công an huyện A xuống làm nhiệm vụ, do sử dụng rượu, bia trước đó, tinh thần bị kích động nên đã có hành vi chửi bới, lăng mạ, dùng kiếm đe dọa nhưng không nhằm vào ai trong tổ công tác. Thanh kiếm là do T tự chế, không nhớ có từ khi nào.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc búa rìu dài 37,5cm, đầu búa bằng kim loại tối màu, có kích thước 05 x 2,5 cm, lưỡi rìu bằng kim loại tối màu, rộng 7,4cm, cán bằng gỗ dài 32cm, đường kính 03cm vào ngày 01/8/2022 do ông Trần Văn T giao nộp và 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 70cm, phần lưỡi dài 50cm thu của Trần Văn T đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện A.

Về dân sự: Anh M trình bày phần bức tường bị phá chưa xây lại nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền theo trị giá xây mới hiện nay là 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung Kết luận định giá tài sản.

Cáo trạng số 107/2022/CT-VKS ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Hủy hoại tài sản, theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc búa rìu và 01 thanh kiếm bằng kim loại; bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện A và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Hành vi trong khoản thời gian từ 18 giờ 50 phút đến 21 giờ ngày 30/7/2022, Trần Văn T đã dùng tay xé rách 01 tấm bạt phủ tường bao, dùng chân và búa bằng kim loại, lưỡi rìu bằng kim loại tối màu hủy hoại bức tường bao của gia đình anh Nguyễn Văn M gây thiệt hại trị giá 2.300.000 đồng là phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của BLHS. Các chứng cứ xác định bị cáo không có tội được loại trừ.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, làm mất giá trị sử dụng tài sản của người khác, gây mất trật tự và ảnh hưởng an ninh xã hội. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết quy định tại các điểm s khoản 1 của BLHS.

Về hình phạt: Với phân tích trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đủ răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Cần xử phạt bị cáo mức án bằng mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tại khoản 5 Điều 178 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền, nhưng hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành nên không phạt tiền bị cáo.

Về dân sự: Anh M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền theo trị giá xây mới hiện nay là 7.000.000 đồng là không có căn cứ; bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường theo thiệt hại đã được định giá. Do vậy, buộc bị cáo bồi thường cho anh M số tiền 2.300.000 đồng.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: 01 chiếc búa rìu và 01 thanh kiếm bằng kim loại bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Về những vấn đề khác: Vụ án không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Đối với hành vi chửi bới, lăng mạ và cầm 01 thanh kiếm đe dọa khi tổ công tác Công an huyện A thực hiện nhiệm vụ vào 11 giờ 25 phút ngày 31/7/2022 của Trần Văn T, tài liệu có trong hồ sơ chưa đủ căn cứ xử lý về tội Chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự nên Công an huyện A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn T là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 01/8/2022.

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584 và 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Trần Văn T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn M số tiền 2.300.000 đồng.

Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, cộng thành 500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc búa rìu và 01 thanh kiếm bằng kim loại (chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng).

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ