- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/HS-ST. Ngày: 15 - 9 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Thân
Ông Mùi Văn Hoạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tráng A Trư - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2022/TLST- ST ngày 26 tháng 08 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 09 năm 2022, đối với bị cáo:
Vàng A P; tên gọi khác, không, sinh năm 1971, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng A Ph (đã chết) và bà Lầu Thị S, sinh năm 1942; bị cáo có vợ là Giàng Thị S, sinh năm 1980 và 04 con, con lớn sinh năm 2002; con nhỏ sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2017 bị TAND huyện V Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La thời hạn 24 tháng. Đến ngày 13/01/2019 Vàng A P đã chấp hành xong quyết định.
- Năm 2020 bị Công an huyện V xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy, P đã thi hành xong.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V từ ngày 03/6/2022 cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 ngày 03/6/2022 Vàng A P; Sinh năm 1971; Nơi cư trú: Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La đang ở nhà thì có một người đàn ông P không quen biết đến nhà P và giới thiệu với P là nhà ở tiểu khu S, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La đến nhà P ngồi chơi và xin hút nhờ thuốc lào tại nhà P. Sau khi hút thuốc lào xong, người đàn ông này hỏi P có sử dụng hồng phiến không, P trả lời có và người đàn ông đó lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người ra 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng 04 viên Hồng phiến đặt lên giường ngủ cạnh vị trí P đang ngồi. Do bản thân nghiện chất ma túy nên P đã lấy một viên Hồng phiến trong gói Hồng phiến của người đàn ông đó ra sử dụng, người đàn ông kia lấy một mảnh giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long mang theo đưa cho P để P sử dụng ma túy. P sử dụng hết 01 viên bằng hình thức đốt hít khói vào trong cơ thể, còn lại 03 viên Hồng phiến. Sau đó P và người đàn ông ngồi nói chuyện với nhau, người đàn ông thấy chiếc nỏ săn bằng gỗ của P treo trên tường thì người đàn ông đến lấy chiếc nỏ xuống và bảo P đổi chiếc nỏ để lấy 03 viên hồng phiến còn lại P đồng ý. P và người đàn ông ngồi nói chuyện thêm một lúc rồi người đàn ông cầm chiếc nỏ của P ra về. Khi người đàn ông vừa đi khỏi nhà Pá thì có tổ công tác Công an xã V đến nhà P đề tuyên truyền, vận động người dân không tàng trữ, sử dụng chất ma túy. Khi thấy có tổ công tác đến P cầm lấy gói nilon màu xanh bên trong đựng 03 viên Hồng phiến mà P vừa trao đổi được với người đàn ông kia cất giấu vào trong lòng bàn tay phải của P. Cùng lúc này, người đàn ông vừa đổi ma túy lấy chiếc nỏ của P bỏ chạy, tổ công tác đã tiến hành truy đuổi nhưng không giữ được đối tượng chỉ thu giữ được chiếc nỏ do đối tượng vứt lại. Ngay sau đó, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra đối với P, quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của P có 01 gói nilon màu xanh, bên trong đựng 03 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY. Lúc này P khai với tổ công tác đó là 03 viên Hồng phiến của P vừa dùng chiếc nỏ của P đổi được trước đó, mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào lời khai của P và vật chứng thu giữ, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/6/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện V cùng phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 03 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY thu giữ của Vàng A P có khối lượng 0,27 gam, lấy toàn bộ 0,27 gam làm mẫu giám định ký hiệu P. Mẫu giám định ký hiệu P được bàn giao cho giám định viên Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Kết luận giám định số: 990 ngày 08/6/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gử i giá m đi ̣nh là 0,27 gam; Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ được là 0,27 gam; loại Methamphetamine. Kèm them kết luận giám định : Không có tà i liê ̣u kèm theo. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,15 gam./.”.
Cáo trạng số: 86/CT-VKS ngày 26/08/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A P về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Vàng A P từ 19 (Mười chín) tháng tù đến 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma túy của Vàng A P; 01 chiếc nỏ có cánh cung bằng tre, chiều dài 90cm, thân nỏ bằng gỗ, chiều dài 60cm, dây nỏ bằng vỏ cây chiều dài 90cm; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 01 phong bì niêm phong phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận rội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 03/6/2022, Vàng A P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,27 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại khu vực Bản B, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang.
Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã cố tình phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ trái phép 0,27 gam Methamphetamine, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và sử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nay tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Vì vậy, áp dụng mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo đang bị tạm giam Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma túy của Vàng A P; 01 chiếc nỏ có cánh cung bằng tre, chiều dài 90cm, thân nỏ bằng gỗ, chiều dài 60cm, dây nỏ bằng vỏ cây chiều dài 90cm; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 01 phong bì niêm phong phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam là những vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Vàng A P khai nhận do P dùng chiếc nỏ để đổi với một người đàn ông, nhưng P không biết tên, tuổi của người đàn ông này, chỉ nghe người đàn ông giới thiệu nhà ở Tiểu khu S, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Buộc Vàng A P phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Vàng A P phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Vàng A P 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong que thử ma túy của Vàng A P; 01 chiếc nỏ có cánh cung bằng tre, chiều dài 90cm, thân nỏ bằng gỗ, chiều dài 60cm, dây nỏ bằng vỏ cây chiều dài 90cm; 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ; 01 phong bì niêm phong phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu P không sử dụng trong quá trình giám định có khối lượng 0,15 gam.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 108/BBVC-CCTHA ngày 29/8/2022.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |