- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Minh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Văn M: 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/02/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 105/2022/ HS-ST Ngày 12/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Khiết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn, ông Tống Đăng Mạnh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2022/HSST ngày 20/10/2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HS ngày 31/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn M, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú: Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 04/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Dương Thanh B, sinh năm: 1947; Mẹ đẻ: Vũ Thị H, sinh năm 1954; Vợ: Ngô Thị N, sinh năm: 1986 (đã ly hôn năm 2019); Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2019; Anh, chị em ruột: Gia đình có 07 anh chị em (bị can là con thứ ba).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 64/2016/HSST ngày 11/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Dương Văn M 03 năm 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, phạt tiền 2.000.000 đồng, truy thu 1.350.000 đồng xung quỹ nhà nước và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 05/02/2019 M đã chấp hành xong hình phạt tù, tháng 10/2016 M đã chấp hành xong tiền phạt, truy thu và án phí. Tính đến ngày phạm tội mới, M đã được xóa án tích.
Bị can bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 10/02/2022 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Vũ Thanh T, sinh năm 1981. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
2. Đồng Thị P, sinh năm 1973. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Cẩm Đ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
1. Vũ Thanh T, sinh năm 1981. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
2. Hoàng Văn T, sinh năm 1989. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
3. Đồng Thị P, sinh năm 1973. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã Cẩm Đ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/02/2022, Vũ Thanh T, sinh năm 1981, trú quán: thôn T, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, sau khi uống thuốc Methadone (thuốc cắt cơn nghiện) tại Trung tâm Y tế huyện Lục Ngạn, T đi ra khu vực cổng Trung tâm Y tế thì gặp người quen là anh Hoàng Văn T, sinh năm 1989, trú tại Thôn C, xã P, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, cũng là đối tượng đang uống thuốc Methadone tại Trung tâm. Do T không có xe nên T đã nhờ anh T chở đi có việc, anh T đồng ý và chở T đi theo chỉ dẫn của T. Khi đi đến nhà của Dương Văn M, sinh năm 1977 ở Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, T bảo anh T dừng xe trước cổng nhà M chờ T. T xuống xe, đi bộ men theo bên tường phía bên phải của nhà M (hướng từ đường Quốc lộ 31 nhìn vào nhà), mục đích để mua ma túy của M thông qua lỗ nhỏ được đục thủng sẵn trên tường nhà M. Khi T đang đi đến gần chỗ lỗ thủng để mua ma túy thì nghe thấy có T người ở trong nhà M gọi: “Vào đây anh ơi”. T quay lại, đi bằng đường cửa chính vào trong nhà M. Lúc này M đang đứng một mình cạnh tủ bán hàng, T bảo M: “Lấy cái hai thôi”(tức là T mua 200.000 đồng ma túy Heroine), M gật đầu đồng ý. T lấy trong túi ra 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri là QJ17121354 đưa cho M. M cầm tiền rồi lấy ra 01 (một) lọ nhựa hình trụ màu trắng - xanh nhãn hiệu XYLITOL, loại lọ đựng kẹo cao su, từ trong hộp mỳ tôm nhãn hiệu Cung Đình được đặt trên nóc tủ bán hàng trong quán trước cửa nhà M. M mở nắp lọ nhựa nêu trên, lấy ra 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong chứa ma túy Heroine đưa cho T. Đồng thời M trả cho T số tiền thừa là 280.000 đồng và nói với T là cho nợ 20.000 đồng, do lúc này M không có tiền lẻ. T đồng ý và cầm đoạn ống nhựa màu tím chứa ma túy mà M đưa cho, đút vào trong túi áo khoác bên trái, còn tiền M đưa trả thì T đút vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc. Sau đó, T đi ra chỗ anh T đợi ngoài cổng, anh T kèm T ra về được một đoạn thì bị lực lượng Công an huyện Lục Ngạn kiểm tra. Lúc này T tự giác giao 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, T khai đó là ma túy Heroine vừa mua của Dương Văn M. Cơ quan Công an đã T hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ đoạn ống nhựa nghi có chứa ma túy do T giao nộp vào phong bì dán kín ký hiệu “QT1” và thu giữ số tiền 282.000 đồng, niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “QT2”.
Cùng ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với người và chỗ ở của Dương Văn M ở Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; khám xét nơi ở của Vũ Thanh T tại thôn T, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Khi lực lượng công an đến khám xét nơi ở của M, lúc này thấy có chị Đồng Thị P, sinh năm 1973, trú tại Thôn T, xã Cẩm Đ, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đang ở nhà M chuẩn bị ra về. Trước đó chị Phượng đến nhà M đòi nợ thì được M trả cho số tiền 1.000.000 đồng, gồm 01 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, có số seri QJ17121354 (là tờ tiền mà T vừa đưa cho M để mua ma túy) và 01 (một) tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng, có số seri KT15148224. Cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Đồng Thị P 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nêu trên, được niêm phong vào phong bì thư dán kín, có ký hiệu “Tiền tạm giữ của chị Đồng Thị P”. Kết quả khám xét nơi ở của Vũ Thanh T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Kết quả khám xét người và nơi ở của Dương Văn M thu giữ:
- Thu giữ trên người của Dương Văn M 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX1”.
- Thu giữ trên vỏ hộp mỳ tôm nhãn hiệu Cung Đình đặt trên nóc tủ bán hàng, gồm:
+ 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu tím đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất cục bột màu trắng.
+ 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ, bên trong chứa: 15 (mười lăm) túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu xanh, bên trong túi chứa chất cục bột màu trắng; 33 (ba mươi ba) đoạn ống nhựa gồm các màu trắng, xanh, tím, vàng, hồng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn đều chứa 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng đỏ, một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY”.
+ 01 (một) lọ nhựa có nắp đậy, hình trụ màu trắng xanh (loại lọ nhựa đựng kẹo cao su), nhãn hiệu XYLITOL, bên trong chứa: 67 (sáu mươi bẩy) đoạn ống nhựa màu xanh, tím đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất cục bột màu trắng; 03 (ba) đoạn ống nhựa màu hồng đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa 01 (một) viên nén màu hồng đỏ, một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY”; 01 (một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu xanh, bên trong chứa 01 (một) viên nén hình tròn màu xanh rêu, một mặt của viên nén có chữ “WY”; 04 (bốn) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa có đường viền màu xanh, bên trong chứa chất cục bột màu trắng.
Các đồ vật trên được niêm phong vào phong bì dán kín, ký hiệu “KX2”.
- Thu giữ tại ngăn bàn phía trước phòng khách của nhà Dương Văn M số tiền 15.100.000đ (mười năm triệu một trăm nghìn đồng).
- Thu giữ trên bề mặt tủ lạnh 01 (một) túi màu hồng (loại túi đựng bút học sinh) bên trong túi chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu được cắt sẵn.
- Thu giữ trên giường ngủ phía trong gian nhà bên phải (hướng nhìn từ ngoài đường Quốc lộ 31 vào nhà) 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ bên trong chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu, đã được cắt sẵn hàn kín một đầu và nhiều túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh (bên trong đều không chứa gì).
- Thu giữ tại trái nuôi gà, sát bên phải nhà M (hướng nhìn từ đường vào, có cửa ngách dẫn từ phòng ngủ của nhà M ra) gồm:
+ 01 (một) hộp giấy bên trong chứa 01 (một) cân điện tử màu trắng có nắp đậy, không có nhãn hiệu, trên bề mặt cân bám dính chất bột màu trắng. Được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX3”;
+ 01 (một) bịch túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh.
- Thu giữ 02 (hai) thẻ nhớ loại dung lượng 32G của camera an ninh của gia đình Dương Văn M được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “Thẻ nhớ của gia đình Dương Văn M”.
- Thu giữ 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, bên trên nắp có gắn ống hút nhựa.
Ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành test nhanh ma túy qua nước tiểu của Dương Văn M, kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine.
Cùng ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số vật chứng được niêm phong trong bì thư ký hiệu “QT1”,”KX2”,”KX3”. Tại bản Kết luận giám định số 287 ngày 16/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,024 gam, loại Heroine.
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX2” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) phong bì là ma túy, có tổng khối lượng 0,165 gam, loại Heroine.
- Trong 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ:
+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong 15 (mười lăm) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 2,330 gam, loại Methamphetamine.
+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,224 gam, loại Heroine.
+ 33 (ba mươi ba) viên nén màu hồng đỏ, một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 33 (ba mươi ba) đoạn ống nhựa gồm các màu trắng, xanh, tím, vàng, hồng, đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 3,130 gam, loại Methamphetamine.
- Trong 01 (một) lọ nhựa hình trụ màu trắng, xanh, nhãn hiệu “XYLITOL” có nắp đậy (loại lọ nhựa đựng kẹo cao su):
+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 67 (sáu mươi bẩy) đoạn ống nhựa gồm các màu xanh, tím đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 2,976 gam, loại Heroine.
+ 03 (ba) viên nén màu hồng đỏ, một mặt của mỗi viên nén đều có chữ “WY” đựng trong 03 (ba) đoạn ống nhựa màu hồng đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,274 gam, loại Methamphetamine.
+ 01 (một) viên nén màu xanh rêu, một mặt của viên nén có chữ “WY” đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh không tìm thấy thành phần chất ma túy, có khối lượng 0,093 gam.
+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 04 (bốn) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,788 gam, loại Heroine.
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX3” đã được niêm phong gửi giám định: Bột màu trắng bám dính trên 01 (một) cân điện tử màu trắng có nắp đậy, không có nhãn hiệu là ma túy, loại Heroine, không xác định được khối lượng.”. (BL: 90-101).
Ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành cho Vũ Thanh T nhận dạng qua ảnh người đã bán ma túy cho T; cho Hoàng Văn T nhận dạng qua bản ảnh đối với người mà T đã chở T đến gặp. Kết quả T nhận ra M là người đã bán ma túy cho T ngày 10/02/2022; T nhận ra M là người mà T đã chở T đến gặp vào ngày 10/02/2022.
Ngày 10/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành lấy mẫu đường vân tay của Dương Văn M và Vũ Thanh T. Ngày 16/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 56 về dấu vết đường vân trên các tờ tiền được niêm phong trong phong bì thư dán kín, có ký hiệu “QT2” và “Tiền tạm giữ của chị Đồng Thị P”. Tại bản Kết luận giám định số 985 ngày 08/3/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Trên các tờ tiền gửi giám định phát hiện thấy một số dấu vết đường vân. Các dấu vết này mờ nhòe, không đủ yếu tố giám định.
Ngày 10/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành thu giữ 10 (mười) sợi tóc (có chân tóc) trên đầu Dương Văn M. Ngày 16/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 55 về ADN. Tại bản Kết luận giám định số 1015 ngày 15/3/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Trên lọ nhựa có nắp đậy, hình trụ màu xanh có chữ XYLITOL và trên túi nilon màu hồng (ký hiệu KX2) có ADN lẫn của nhiều người, không phân tích được kiểu gen (ADN) của từng người. Lưu ADN tại Viện Khoa học hình sự Bộ Công an.”.
Ngày 02/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 73 về kỹ thuật số, điện tử đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi màu đen, lắp kèm 02 (hai) thẻ sim Viettel trên thân sim có in số là 8984048000043952065 và 8984048000331544013, được niêm phong trong bì thư ký hiệu “KX1” đã thu giữ khi khám xét nơi ở của Dương Văn M. Tại bản Kết luận giám định số 443 ngày 22/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
“- Tìm thấy 86 dữ liệu cuộc gọi; 12 dữ liệu tin nhắn SMS, 54 dữ liệu tin nhắn Zalo, 76 dữ liệu cuộc gọi Zalo, 02 dữ liệu tin nhắn Facebook Messenger lưu trữ trong 01 (một) thiệt bị điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi màu đen (có bọc vỏ bằng nhựa) lắp kèm 02 (hai) thẻ sim Viettel trên thân sim có in số là 8984048000043952065 và 8984048000331544013 gửi giám định (Thời gian từ ngày 06/02/2022 đến hết ngày 10/02/2022).
- Trích xuất được 1174 file dữ liệu video lưu trữ 01 (một) thẻ nhớ Micro SD 32GB màu xanh - trắng (thời gian từ ngày 06/02/2022 đến hết ngày 10/02/2022 hiển thị trên khung hình).
- Không trích xuất được các file dữ liệu trên 01 (một) thẻ nhớ Micro SD 32GB màu đỏ - trắng, do thẻ nhớ đã bị hỏng, không còn hoạt động.
(Chi tiết các dữ liệu được thể hiện trong tệp tin có tên “File video”, dung lượng 21,9GB và tập tin có tên “File KLGD”, dung lượng 65,2 KB lưu trữ trong 01 (một) thiết bị lưu trữ USB nhãn hiệu Apacer màu xanh - trắng).”.
Ngày 16/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành thu thập giọng nói của Dương Văn M; Ngày 18/5/2022 T hành trích xuất video từ thiết bị lưu trữ USB nhãn hiệu Apacer màu xanh - trắng do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định; Ngày 19/5/2022 T hành thu thập giọng nói của Vũ Thanh T. Ngày 23/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 157 về video và Tg nói trong đoạn video đã thu giữ. Tại bản Kết luận giám định số 3277 ngày 12/7/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:
“- Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định.
- Không đủ cơ sở kết luận về Tg nói các mẫu so sánh của Vũ Thanh T, Dương Văn M có trong mẫu cần giám định hay không (mẫu giám định có chất lượng kém).
- Nội dung đoạn hội thoại trong mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản: Thời gian Người hội thoại
Nội dung hội thoại 00:00
(Âm thanh giống Tg nhạc và Tg hát được phát từ loa)
... 00:03
Nam 1
Vào đây anh ơi.
00:13
Nam 2
Lấy cái hai thôi?
... 00:44
-Hết-
Ghi chú:
+ Ký hiệu “Nam 1”, “Nam 2” trong phần dịch là Tg nói của những người đàn ông mà người dịch nghe được.
+ Những đoạn ký hiệu ba chấm “...” là những chỗ các nhân vật nói trùng nhau, nói nhỏ hoặc quá ồn nhiễu mà người dịch không nghe được.
+ Phần trong dấu ngoặc đơn ( ) là lời chú thích của người dịch”.
Ngày 27/4/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành cho Vũ Thanh T và Hoàng Văn T xác định hình ảnh trong đoạn video lưu trữ trong USB do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định. Kết quả: T và T đều xác định hình ảnh người đàn ông trong video là T đi vào nhà M mua ma túy.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi khám xét nơi ở của Dương Văn M, M khai là do M mua vào ngày 09/10/2022 của một người đàn ông tên Dũng ở gần chùa Biển, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn với mục đích mua về để sử dụng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành điều tra xác M nhưng không làm rõ được nhân thân, lai lịch của người tên Dũng nêu trên nên không có căn cứ để xử lý.
Quá trình điều tra Dương Văn M không thừa nhận bán ma túy cho Vũ Thanh T vào ngày 10/2/2022. Ngày 30/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành cho Dương Văn M và Vũ Thanh T, Hoàng Văn T đối chất với nhau, kết quả hai bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Đối với Vũ Thanh T đã có hành vi Tàng trữ 0,024 gam ma túy Heroine với mục đích sử dụng. Bản thân T không có tiền án, tiền sự về các tội liên quan đến ma túy. Do đó hành vi của T không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Thanh T về hành vi nêu trên số tiền 3.500.000 đồng.
Đối với anh Hoàng Văn T là người đã chở Vũ Thanh T đến nhà Dương Văn M, tuy nhiên T không biết T nhờ chở đến nhà M để mua ma túy, do đó cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với Hoàng Văn T là có căn cứ.
Quá trình điều tra căn cứ kết quả giám định kỹ thuật số điện tử của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang về nội dung trong chiếc điện thoại di động của Dương Văn M Cơ quan điều tra đã T hành triệu tập làm việc với Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1990, trú tại thôn Biển Giữa, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Dũng khai: Số thuê bao di động 0965241290 là của Dũng, bản thân Dũng nghiện ma túy. Ngày 07/02/2022 Dũng sử dụng số điện thoại trên gọi điện cho M để hỏi mua ma túy nhưng M không nghe máy. Sau đó Dũng nhắn tin cho M với nội dung “Gói cho em ba nước”, nghĩa là Dũng hỏi mua ba trăm nghìn ma túy đá của M. Tuy nhiên không thấy M gọi điện hay nhắn tin lại nên khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Dũng đã đến cổng nhà M mua của M 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng, số ma túy trên Dũng đã sử dụng hết. T hành cho Nguyễn Văn Dũng nhận dạng Dương Văn M qua bản ảnh, kết quả Dũng nhận ra M là người đã bán ma túy cho Dũng ngày 07/02/2022. Tuy nhiên quá trình điều tra, Dương Văn M không thừa nhận việc bán ma túy cho Nguyễn Văn Dũng, T hành cho bị can Dương Văn M đối chất với Nguyễn Văn Dũng, kết quả Dũng và M vẫn giữ nguyên lời khai; Căn cứ kết quả giám định kỹ thuật số, điện tử của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đối với thẻ nhớ camera an ninh thu giữ của gia đình Dương Văn M, Cơ quan điều tra đã T hành triệu tập làm việc với Nguyễn Vân Tùng, sinh năm 1969, trú tại thôn Phố Biển, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tùng khai: Bản thân Tùng là người sử dụng chất ma túy Heroine, buổi sáng ngày 10/02/2022, Tùng đi nhà Dương Văn M để mua ma túy sử dụng, khi đến nhà M, Tùng đã mua 01 đoạn ống nhựa chứa ma túy Heroine với giá 100.000 thông qua lỗ nhỏ trên tường phía bên tay trái nhà M (hướng nhìn từ trong nhà ra ngoài đường Quốc lộ 31). Tùng không biết ai là người đã bán số ma túy trên cho Tùng. Số ma túy trên Tùng đã sử dụng hết. T hành cho Nguyễn Vân Tùng nhận dạng người trong ảnh được trích xuất từ camera an ninh của gia đình Dương Văn M, kết quả Tùng xác định người trong ảnh là Tùng đến nhà M mua ma túy vào ngày 10/02/2022. Tuy nhiên quá trình điều tra, Dương Văn M không thừa nhận việc bán ma túy cho Nguyễn Vân Tùng. Xét thấy ngoài lời khai của Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Vân Tùng không còn căn cứ nào khác xác định M bán ma túy cho Dũng vào ngày 07/02/2022 và bán ma túy cho Tùng vào ngày 10/02/2022 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn không đặt ra, xem xét, xử lý hành vi của Dương Văn M, Nguyễn Vân Tùng, Nguyễn Văn Dũng là có căn cứ. Đối với các đối tượng khác xuất hiện trong video trích xuất từ camera an ninh của gia đình Dương Văn M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã T hành rà soát, truy tìm, cho Dương Văn M, Công an xã và trưởng Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn nhận dạng qua bản ảnh, tuy nhiên không xác định được nhân thân, địa chỉ của những người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn tiếp tục xác M, làm rõ.
Về vật chứng của vụ án, gồm: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX2” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX3” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Thẻ nhớ của gia đình Dương Văn M” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Cơ quan CSĐT-Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “DVD” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi màu hồng (loại túi đựng bút học sinh) bên trong chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu được cắt sẵn (số lượng nhiều không kiểm đếm, thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ đựng nhiều đoạn ống nhựa các màu đã được cắt sẵn, đều được hàn kín một đầu và nhiều túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa nhựa trên rãnh khóa có đường viền màu xanh (bên trong các đoạn ống nhựa và túi nilon đều không chứa gì, số lượng nhiều không kiểm đếm, được thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) hộp giấy bên trong có chứa 01 (một) bịch túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, bên trên nắp có gắn ống hút nhựa; 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền Phượng” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền T” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); Số tiền 15.100.000 đồng, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Dương Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251Bộ luật hình sự.
Tại phần xét hỏi, ban đầu bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán ma túy cho Vũ Thanh T. Tuy nhiên, sau khi đấu tranh, phân tích và đấu tranh tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn nêu ra, thừa nhận số ma túy bị thu giữ tại nhà bị cáo là của bị cáo mua về vừa bán vừa đẻ sử dụng.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội các bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố, và và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm p, khoản 2 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn M: Từ 09 đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/02/2022.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bằng tiền từ 10 đến 20 triệu đồng chẵn sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX2” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX3” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Thẻ nhớ của gia đình Dương Văn M” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Cơ quan CSĐT-Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “DVD” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi màu hồng (loại túi đựng bút học sinh) bên trong chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu được cắt sẵn (số lượng nhiều không kiểm đếm, thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ đựng nhiều đoạn ống nhựa các màu đã được cắt sẵn, đều được hàn kín một đầu và nhiều túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa nhựa trên rãnh khóa có đường viền màu xanh (bên trong các đoạn ống nhựa và túi nilon đều không chứa gì, số lượng nhiều không kiểm đếm, được thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) hộp giấy bên trong có chứa 01 (một) bịch túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, bên trên nắp có gắn ống hút nhựa;
- Trả lại bị cáo số tiền tiền 15.100.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX1” được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại chị Đồng Thị P 1.000.000 đồng.
- Sung quỹ nhà nước số tiền 280.000 đồng của anh Vũ Thanh T.
- Truy thu bị cáo số tiền 220.000 đồng do phạm tội mà có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, điều 23 Điều Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bi cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo tranh luận: Bị cáo không tranh luận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐ xx giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của cơ quan điều tra và Điều tra Viên, của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292; Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt những người này.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lục Ngạn, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám xét cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10/02/2022 tại Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Dương Văn M, sinh năm 1977 trú tại Thôn B, xã B, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã có hành vi bán trái phép 01 tép ma túy Heroine có khối lượng 0,024 gam với giá 200.000 đồng cho Vũ Thanh T, sinh năm 1981, trú quán: thôn T, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Khám xét nơi ở của M thu giữ 4,153 gam ma túy loại Heroine và 5,734 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 loại ma túy M mua bán trái phép là 9,911 gam.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, không oan, sai.
Hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ mong muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bất chấp các quy định của pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán tái phép chất ma túy nhằm thu lợi bằng tiền. Hơn nữa, bị cáo là người đã bị Tòa án xử phạt về tội môi giới mại dâm đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội chứng tỏ bị cáo đã thể hiện thái độ coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma túy còn là một tệ nạn xã hội, nó không chỉ làm suy thoái đạo đức, lối sống mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều bệnh xã hội khác. Để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần xoá bỏ các tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn mại dâm ra khỏi đời sống xã hội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo theo quy định của Bộ luật Hình sự mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét toàn diện các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức án phù hợp với từng bị cáo.
Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân thì thấy
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về Hình phạt: Từ những phân tích trên, sau khi đánh giá toàn diện tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự, cần cách ly bị cáo Dương Văn M ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là có căn cứ.
Đối với vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX2” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX3” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Thẻ nhớ của gia đình Dương Văn M” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Cơ quan CSĐT-Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “DVD” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi màu hồng (loại túi đựng bút học sinh) bên trong chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu được cắt sẵn (số lượng nhiều không kiểm đếm, thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ đựng nhiều đoạn ống nhựa các màu đã được cắt sẵn, đều được hàn kín một đầu và nhiều túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa nhựa trên rãnh khóa có đường viền màu xanh (bên trong các đoạn ống nhựa và túi nilon đều không chứa gì, số lượng nhiều không kiểm đếm, được thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) hộp giấy bên trong có chứa 01 (một) bịch túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, bên trên nắp có gắn ống hút nhựa là tang vật liên quan đến vụ án, là những chất cấm lưu hành hoặc không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX1” là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng đựng trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền Phượng” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định) là tiền bị cáo trả cho chị Phượng nên cần trả lại cho chị Đồng Thị P.
- Đối với số tiền 280.000 đồng đựng trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền T” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định) là tiền của Vũ Thanh T, anh T không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 15.100.000 đồng thu giữ của bị cáo Dương Văn M là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm p, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm 3, Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử
1. Xử phạt bị cáo Dương Văn M: 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/02/2022. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “QT1” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX2” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX3” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Thẻ nhớ của gia đình Dương Văn M” (do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Cơ quan CSĐT-Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “DVD” (do Viện khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định); 01 (một) túi màu hồng (loại túi đựng bút học sinh) bên trong chứa nhiều đoạn ống nhựa các màu được cắt sẵn (số lượng nhiều không kiểm đếm, thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) túi nilon màu hồng đỏ đựng nhiều đoạn ống nhựa các màu đã được cắt sẵn, đều được hàn kín một đầu và nhiều túi nilon màu trắng một đầu đều có rãnh khóa nhựa trên rãnh khóa có đường viền màu xanh (bên trong các đoạn ống nhựa và túi nilon đều không chứa gì, số lượng nhiều không kiểm đếm, được thu giữ tại nơi ở của Dương Văn M trong quá trình khám xét); 01 (một) hộp giấy bên trong có chứa 01 (một) bịch túi nilon màu trắng, một đầu đều có rãnh khóa nhựa, phía trên rãnh khóa đều có đường viền màu xanh; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy, bên trên nắp có gắn ống hút nhựa là tang vật liên quan đến vụ án, là những chất cấm lưu hành hoặc không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Trả lại bị cáo Dương Văn M: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, được niêm phong vào phong bì dán kín ký hiệu “KX1” và số tiền 15.100.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại chị Đồng Thị P số tiền 1.000.000 đồng đựng trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền Phượng” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 280.000 đồng đựng trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “Tiền T” (do Viện Khoa học hình sự Bộ Công an hoàn lại sau giám định) của Vũ Thanh T.
- Truy thu bị cáo Dương Văn M số tiền: 220.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
4. Về thời hạn kháng cáo: Đối với bị cáo, người có quyền lợi liên quan có mặt, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày T án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc 15 ngày tính từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - - VKSND tỉnh Bắc Giang; - - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Ngạn; - Công an huyện Lục Ngạn; - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: VP và hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Khiết |