vanban.org

Bản án 105/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 07/8/2007 cho anh Nguyễn Văn D nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Oánh ly hôn anh Nguyễn Văn Dương"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/HNGĐ-ST
Ngày 01-12-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thi

2. Ông Đỗ Văn Thư

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị O; ĐKHKTT: Tổ 0, thị trấn A, huyện An D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ 0, Thị trấn C, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D; nơi cư trú: Tổ 0, thị trấn A, huyện An D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị O trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Thị trấn An D, huyện An D, thành phố Hải Phòng vào năm 2006. Sau khi kết hôn, hai bên sinh sống tại Tổ 0, Thị trấn A, huyện An D, Hải Phòng. Quá trình chung sống hai bên hòa thuận được mấy năm đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị đã tìm cách khắc phục nhưng hai bên không cải thiện được mà ngày càng mâu thuẫn nghiêm trọng. Hai bên đã sống ly thân từ 2020 đến nay, không còn quan tâm và có trách nhiệm gì đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống đoàn tụ, hôn nhân không có hạnh phúc. Đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 07/8/2007. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh D nuôi dưỡng sau ly hôn vì từ khi ly thân con chung ở với anh D ổn định.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh D tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa, quá trình tố tụng anh D trình bày:

Anh D xác định lời trình bày của chị Nguyễn Thị O về thời gian kết hôn và quá trình chung sống của vợ chồng là đầy đủ, mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm sống, chị O đã chuyển đi nơi khác sống ly thân với anh hai năm nay. Việc chị O xin ly hôn anh không chấp nhận do tình cảm vợ chồng giữa hai bên vẫn còn, đề nghị Tòa án hòa giải cho anh và chị O đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị O có 01 con chung họ tên ngày tháng năm sinh con chung chị O trình bày là chính xác, ly hôn anh thống nhất với quan điểm của chị O đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Phương A cho anh nuôi dưỡng sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Anh và chị O tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn D. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 07/8/2007 cho anh Nguyễn Văn D nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hai bên tự thỏa thuận, không giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Nguyễn Thị O khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn D có địa chỉ: Thị trấn An D, huyện An D, thành phố Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An D, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D vắng mặt, có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào chứng cứ do đương sự cung cấp và các chứng cứ do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị O và anh D về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện ở việc trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm đến nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Quá trình giải quyết vụ án, chị O xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D. Còn anh D đề nghị Tòa án hòa giải để hai bên đoàn tụ. Tòa án đã báo anh D đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa nhưng anh D đều vắng mặt.

Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D đã kéo dài và trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D có 01 con chung Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 07/8/2007. Xét thấy, việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, chị O anh D có quan điểm thống nhất anh D nuôi con chung Nguyễn Thị Phương A sau ly hôn và về cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, Tòa án thu thập, nguyện vọng con chung. Xét quan điểm của chị O và anh D là tự nguyện, giao con chung Nguyễn Thị Phương A cho anh Nguyễn Văn D nuôi dưỡng sau ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D không yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị O được ly hôn anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 07/8/2007 cho anh Nguyễn Văn D nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D không yêu cầu, Hội đồng xét xử tạm thời không giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị O phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị O đã nộp (biên lai thu tiền số 0004276 ngày 04/10/2022) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị O đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị O và anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện An D;

- Chi cục Thi hành án dân sự An D;

- UBND Thị trấn A (ĐKKH số 12/2006);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thi

Đỗ Văn Thư

Nguyễn Thị Thu Hương Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện An D;

- Chi cục Thi hành án dân sự An D;

- UBND xã Đại Bản ( ĐKKH số 78/2008, ngày 10/6/2008);

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Thu Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương Nguyễn Thị Lợi

Đỗ Văn Thư

Cỡ chữ