vanban.org

Bản án 105/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Phương Q "ly hôn" Bùi Thành T"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!ĐỨC!LINH!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
TỈNH!BÌNH!THUẬN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
!!!!!!!!!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/9/2022
“V/v"ly"hôn”"

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!ĐỨC!LINH-!TỈNH!BÌNH!THUẬN!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:"

Thẩm"phán-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Huỳnh Văn Thuận.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Ông Đoàn Công Hòa.

2. Bà Nguyễn Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham"gia"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 343/2022/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 116/2022/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

-"Nguyên"đơn: Chị Nguyễn Phương Q, sinh năm 1990; nơi"cư"trú: Số A, tổ B, khu phố C, phường D, thành phố BH, tỉnh ĐN.

-" Bị" đơn: Anh Bùi Thành T, sinh năm 1992;" nơi" đăng" ký" HKTT: Số A1, đường số B1, thôn C1, xã NC, huyện ĐL, tỉnh BT; nơi" cư" trú: ZA2, Đội A3, KLĐDN, Trại giam TĐ, xã TĐ, huyện HT, tỉnh BT.

Tại phiên tòa vắng mặt chị Q (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 23/8/2022), vắng mặt anh T.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 7 năm 2022, các bản khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, đơn đề nghị xét xử vắng mặt lập ngày 23/8/2022, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Phương Q trình bày: Chị và anh Bùi Thành T tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố BH, tỉnh ĐN. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chăm lo làm ăn, thường xuyên chơi bài bạc, cá độ nên vợ chồng xảy ra cải vã lẫn nhau. Đến năm 2020, anh T bị Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên chị và anh T đã ly thân từ đó cho đến nay. Chị Q xác định vợ chồng không còn tình cảm yêu thương, quý trọng nhau; mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn lại được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Thành T.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự lập ngày 19/8/2022 có trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh Bùi Thành T trình bày: Anh và chị Nguyễn Phương Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố BH, tỉnh ĐN. Sau khi kết hôn vợ chồng vẫn chung sống hạnh phúc bình thường, không có mâu thuẫn gì. Về mâu thuẫn giữa vợ chồng theo như đơn khởi kiện ly hôn của chị Q là không đúng, bởi vì anh không có chơi cờ bạc. Anh bị Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đi chấp hành án tại Trại giam TĐ từ tháng 02/2020 cho đến nay. Anh T không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Q, vì giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Anh đang phải chấp hành án nên không thể tham gia tố tụng tại Tòa án được và cũng không yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tổ chức các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng do bị đơn anh Bùi Thành T không thể đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.

Ý"kiến"của"Kiểm"sát"viên"tại"phiên"tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật TTDS.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật TTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật TTDS.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật TTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015, chị Nguyễn Phương Q và anh Bùi Thành T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố BH, tỉnh ĐN. Quá trình chung sống giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, không chia sẻ tôn trọng và thấu hiểu nhau. Chị Q cho rằng anh T không chăm lo làm ăn, thường xuyên chơi bài bạc, cá độ nên vợ chồng xảy ra cải vã lẫn nhau. Thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q là có căn cứ.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: !

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì có cơ sở để kết luận đây là quan hệ pháp luật ly hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt lập ngày 23/8/2022, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và theo giấy chứng nhận kết hôn số 146/2015, quyển số 01/2015 cấp ngày 03/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường D, thành phố BH, tỉnh ĐN. Thấy rằng, hôn nhân giữa chị Nguyễn Phương Q và anh Bùi Thành T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình. Chị Q cho rằng anh T thường xuyên chơi bài bạc, còn anh T phủ nhận ý kiến này của chị Q. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn, nhưng xét thấy cuộc sống chung của anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Q xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau và mong muốn chấm dứt mối quan hệ hôn nhân. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Q là phù hợp pháp luật.

[2.2] Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh T không tranh chấp nên không phải xem xét.

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Q là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí DSST theo luật định, nhưng được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Vì"các"lẽ"trên,

QUYẾT!ĐỊNH!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên"xử:"Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn."

1/ Về!hôn!nhân: Chị Nguyễn Phương Q ly hôn anh Bùi Thành T.

2/ Về!con!chung,!về!tài!sản!chung,!nợ!chung: Chị Q và anh T không tranh chấp nên không phải xem xét.

3/ Về! án! phí: Chị Nguyễn Phương Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012329 ngày 11/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4/!Về!quyền!kháng!cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/9/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5/"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. !

Cỡ chữ